vanban.org

Quyết định 05/2021/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Yêu cầu tuyên bố một người mất tích TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R’LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Quyết định tuyên bố một người mất tích"
  • Tòa quyết gì? SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK R’LẤP
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 05/2021/QĐST – VDSĐắk R’lấp, ngày 04 tháng 6 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R’LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Trần Ngọc Anh

Thư ký phiên họp: Bà Đoàn Thị Vân – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp tham gia phiên họp: Ông Phan Minh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông mở phiên họp sơ thẩm công khai để giải quyết việc dân sự thụ lý số: 233/2020/TLST – VDS ngày 09 tháng 12 năm 2020 về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 05/2021/QĐST-VDS ngày 24 tháng 5 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1966; Địa chỉ: Thôn 11, xã A, huyện B, tỉnh Đắk Nông – Có mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Bà Nguyễn Thị H với ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1970 chung sống với nhau tự nguyện vào năm 1991, không có đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn về tình cảm nên ông Nguyễn Văn D đã bỏ nhà đi biệt tích khỏi địa phương từ tháng 8/2008 đến nay không có tin tức gì. Bà Nguyễn Thị H đã đi tìm kiếm nhiều nơi nhưng không ai biết hiện ông Nguyễn Văn D đang ở đâu và cũng không có thông tin xác thực ông Nguyễn Văn D. Bà H đã thông báo tìm kiếm người vắng mặt trên báo Công lý và đài tiếng nói Việt Nam nhưng vẫn không có kết quả.

Nay cần sự có mặt của ông D để giải quyết việc ly hôn giữa bà H và ông D nên bà H làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp: Tuyên bố một người mất tích đối với ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1970; Nơi cư trú cuối cùng: Thôn 11, xã A, huyện B, tỉnh Đắk Nông theo quy định của pháp luật.

Phát biểu của Kiểm sát viên: Yêu cầu của bà Nguyễn Thị H là phù hợp với quy định của pháp luật, Vì vậy, đề nghị Tòa án áp dụng Điều 27, Điều 35, Điều 39 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 của Bộ luật dân sự: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị H, tuyên bố ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1970, nơi cư trú cuối cùng: Thôn 11, xã A, huyện B, tỉnh Đắk Nông mất tích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp. Tòa án nhân dân huyện Đắk R’lấp nhận định:

. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị H có đơn yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích” đối với; ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1970 , nơi cư trú cuối cùng: Thôn 11, xã A, huyện B, tỉnh Đắk Nông. Vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp theo quy định tại khoản 2 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về thời hiệu yêu cầu: Ông Nguyễn Văn D có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn 11, xã A, huyện B, tỉnh Đắk Nông, nhưng đến tháng 08/2008 ông D đã bỏ đi khỏi địa phương, cho đến nay vẫn biệt tích không rõ đi đâu. Điều này đã được Công an xã A xác nhận. Như vậy, thời gian bà H yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đảm bảo theo khoản 2 Điều 387 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về nội dung: Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn D chung sống với nhau từ năm 1991 trên cơ sở tự nguyện nhưng không đăng ký kết hôn, bà H và ông D có 03 con chung: Nguyễn Thị C, sinh năm 1994, Nguyễn Thị N, sinh năm 1996, Nguyễn Văn C, sinh năm 1998 đã trưởng thành(đủ 18 tuổi). Vì vậy, mà yêu cầu của bà H là căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ hôn nhân gia đình giữa bà H đối với ông D.

Việc ông Nguyễn Văn D bỏ đi khỏi thôn 11 xã A, huyện B, tỉnh Đắk Nông từ tháng 08/2008 không khai báo địa chỉ nơi đến, sự việc này có Công an xã A xác nhận. Bà H đã làm thủ tục thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú đối với ông D là đăng tin trên báo, đài theo đúng quy định tại Điều 384, Điều 385, khoản 2 Điều 388 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng đến nay đã hết thời hạn đăng tin trên báo và phát tin trên đài nhưng ông D vẫn biệt tích. Đây là các căn cứ để Tòa án xem xét yêu cầu tuyên bố một người mất tích của bà H đối với ông D.

Từ những nhận định ở trên Tòa án xét thấy cần chấp nhận đơn của bà Nguyễn Thị H yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích” đối với ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1970, nơi cư trú cuối cùng: Thôn 11, xã A, huyện B, tỉnh Đắk Nông.

.Về đề nghị của Đại diện viện kiểm sát là phù hợp cần chấp nhận.

. Về lệ phí: Bà Nguyễn Thị H phải nộp lệ phí việc dân sự theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên:

QUYEÁT ÑÒNH:

Căn cứ Điều 19 Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, Điều 372, Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị H đối với ông Nguyễn Văn D.

Tuyên bố ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1970, nơi cư trú cuối cùng: Thôn 11, xã A, huyện B, tỉnh Đắk Nông mất tích.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị H phải nộp 300.000đồng tiền lệ phí việc dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng tiền tạm ứng lệ phí việc dân sự sơ thẩm bà H đã nộp theo biên lai số 0004566 ngày 08/12/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định này.

Cỡ chữ