vanban.org

Quyết định 05/2021/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn N và chị Trịnh Y. 2.

Về hôn nhân: Anh Nguyễn N và chị Trịnh Y thuận tình ly hôn. Về con chung: Anh Nguyễn N và chị Trịnh Y thỏa thuận giao con chung tên Nguyễn T, sinh ngày 28/8/2007 cho chị Trịnh Y trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 (mười tám) tuổi. Anh Nguyễn N được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai đư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nam - Ý TTLH cấp dưỡng"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn N và chị Trịnh Y. 2.
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NGÃ NĂM
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 05/2021/QĐST-HNGĐNgã Năm, ngày 26 tháng 01 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số 04/2021/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2021, giữa:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn N, sinh năm 1981. Địa chỉ: ấp A, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Chị Trịnh Y, sinh năm 1984. Địa chỉ: số W, khóm E, phường R, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào Điều 55, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 18 tháng 01 năm 2021.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 18 tháng 01 năm 2021 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn N và chị Trịnh Y. 2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

- Về hôn nhân: Anh Nguyễn N và chị Trịnh Y thuận tình ly hôn.

- Về con chung: Anh Nguyễn N và chị Trịnh Y thỏa thuận giao con chung tên Nguyễn T, sinh ngày 28/8/2007 cho chị Trịnh Y trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 (mười tám) tuổi. Anh Nguyễn N được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản anh thực hiện hợp pháp quyền này.

-1-

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn N và chị Trịnh Y thống nhất thỏa thuận anh Nguyễn N cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn T với mức cấp dưỡng là 2.000.000 đồng/tháng, cấp dưỡng định kỳ hàng tháng, ấn định vào ngày 18 của tháng. Thời gian cấp dưỡng bắt đầu được tính từ ngày 18/01/2021 cho đến khi cháu T đủ 18 (mười tám) tuổi. (Nếu ngày cấp dưỡng rơi vào ngày thứ bảy, chủ nhật hoặc nghỉ lễ, tết thì ngày cấp dưỡng sẽ được dời vào ngày làm việc tiếp theo). Địa điểm giao nhận tiền cấp dưỡng các đương sự tự thỏa thuận hoặc tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng.

- Về tài sản chung: Các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

- Về nợ chung: Các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

- Về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn: Các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Các đương sự thỏa thuận anh Nguyễn N đồng ý nộp 150.000đ (một trăm năm mươi ngàn đồng) án phí về việc thuận tình ly hôn và 150.000đ (một trăm năm mươi ngàn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con, tổng cộng là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà anh N đã nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0007609 ngày 12/01/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, anh N đã thực hiện xong phần án phí. 3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ