- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Mùa A T và Tráng Thị V"
- Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận yêu cầu của anh Mùa A T về việc tuyên bố chị Tráng Thị V và cháu Mùa Thị Thanh X mất tích,
- Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 05/2021/QĐST-DS | Tân Uyên, ngày 17 tháng 6 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên họp: Bà Dương Thị Tuyết Thanh.
Thư ký phiên họp: Ông Giang Tiến Hiệp.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Kiến Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 04/2021/TLST-DS ngày 13 tháng 01 năm 2021 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 04/2021/QĐST-DS, ngày 09 tháng 6 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Mùa A T, sinh năm 1975; Nơi cư trú: Bản K, xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu.
- Người bị yêu cầu:
1. Chị Tráng Thị V, sinh năm 1976; Địa chỉ trước khi biệt tích: Bản K, xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu.
2. Cháu Mùa Thị Thanh X, sinh ngày 17/02/2004; Địa chỉ trước khi biệt tích: Bản K, xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
* Theo đơn yêu cầu, các lời khai và tại phiên họp, anh Mùa A T trình bày trình bày: Anh và chị Tráng Thị V, sinh năm 1976 về chung sống với nhau từ năm 1996, đến 11/11/2001 thì anh và chị V đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Lào Cai nay (nay là huyện T, tỉnh Lai Châu). Anh và chị V chung sống hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì và có 04 con chung là cháu Mùa A P, sinh năm 1997; Mùa A T, sinh năm 2000; Mùa Thị D, sinh năm 2002 và Mùa Thị Thanh X, sinh ngày 17/02/2004 nhưng đến ngày 30/11/2015 thì chị Tráng Thị V cùng con chung là Mùa Thị Thanh X, sinh ngày 17/02/2004 bỏ đi. Ngay sau đó, anh đã trình báo sự việc đến Công an huyện T và Ủy ban nhân dân xã H để tìm kiếm nhưng không có tin tức gì. Anh cũng đã dùng nhiều biện pháp để tìm kiếm vợ và con gái như thông báo trên Đài truyền thanh truyền hình huyện T và tìm hỏi những người thân thích nhưng đều không có tin tức gì. Nơi cư trú cuối cùng trước khi chị V và cháu X mất tích tại Bản K, xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu. Vì quyền và lợi ích hợp pháp của anh nên anh đề nghị Tòa án tuyên bố chị Tráng Thị V và cháu Mùa Thị Thanh X mất tích để anh làm thủ tục ly hôn với chị V.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên tham gia phiên họp, phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết, Thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục giải quyết việc dân sự. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên áp dụng khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39; các Điều 371, 372, 387 và 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật Dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu của anh Mùa A T về việc tuyên bố chị Tráng Thị V và cháu Mùa Thị Thanh X mất tích và miễn lệ phí giải quyết việc dân sự cho anh T do anh là người đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự đã được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của người yêu cầu và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên tại phiên họp, Tòa án nhân huyện Tân Uyên nhận định:
Về trình tự, tố tụng:
Người yêu cầu là anh Mùa A T yêu cầu tuyên bố chị Tráng Thị V và cháu Mùa Thị Thanh X mất tích, nơi cư trú cuối cùng của chị V và cháu X trước khi biệt tích bản K, xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu. Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên xác định chị Tráng Thị V và cháu Mùa Thị Thanh X là người bị yêu cầu và thụ lý giải quyết là phù hợp với khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Anh Mùa A T và chị Tráng Thị V về chung sống với nhau từ năm 1996, đến 11/11/2001 thì anh và chị V đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Lào Cai nay (nay là huyện T, tỉnh Lai Châu). Vì vậy, xác định quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị V là quan hệ hôn nhân hợp pháp và cháu Mùa Thị Thanh X là con chung của anh Mùa A T và chị Tráng Thị V nên anh T có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Tráng Thị V và cháu Mùa Thị Thanh X mất tích theo quy định tại khoản 1 Điều 387 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trước khi nộp đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Tráng Thị V và cháu Mùa Thị Thanh X mất tích, anh Mùa A T đã đi tìm nhiều nơi, trình báo sự việc với Ủy ban nhân dân xã H, Công an huyện T. Anh đã thông báo tìm người nhà tại Đài truyền thanh truyền hình huyện T vào ngày 01/10/2020 nhưng không có tin tức của chị V và cháu X. Như vậy, trước khi nộp đơn yêu câu cầu anh Mùa A T đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm nhưng không biết chị V và cháu X ở đâu, Tòa án thụ lý đơn yêu cầu là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 387 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét về nội dung yêu cầu của người yêu cầu:
Ngày 29/01/2021 Tòa án đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 01/2021/QĐ-TA đối với chị Tráng Thị V và cháu Mùa Thị Thanh X. Thông báo đã được đăng trên Đài tiếng nói Việt Nam VOV2 vào các ngày 08, 09, và ngày 10 tháng 02 năm 2021 và báo Công lý trong ba số liên tiếp vào các ngày 03, 10 và ngày 12 tháng 3 năm 2021; Cổng thông tin điện tử tỉnh Lai Châu. Nội dung thông báo và việc công bố thông báo phù hợp với quy định tại Điều 384; Điều 385 và khoản 2 Điều 388 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Như vậy, tính từ ngày đăng, phát thông báo đầu tiên là ngày 08/02/2021 đến ngày 08/6/2021 hết thời hạn 04 tháng nhưng vẫn không có tin tức gì của chị Tráng Thị V và cháu Mùa Thị Thanh X.
Tại biên bản xác minh ngày 21/01/2021 Ủy ban nhân dân xã và Công an xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu đều xác định: Chị Tráng Thị V và cháu Mùa Thị Thanh X bỏ nhà đi từ ngày 30/11/2015 đến nay không có ở địa phương, không biết tin tức gì. Như vậy, chị Tráng Thị V và cháu Mùa Thị Thanh X đã biệt tích 02 năm liền trở lên mà không có tin tức gì, còn sống hay đã chết, anh T đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm nay anh yêu cầu Tòa án tuyên bố chị V và cháu X mất tích là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự và Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về lệ phí: Do anh Mùa A T là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đã có đơn xin miễn lệ phí nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, miễn lệ phí dân sự sơ thẩm cho anh T.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39; các Điều 371, 372, 387 và 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 68 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[1] Chấp nhận yêu cầu của anh Mùa A T về việc tuyên bố chị Tráng Thị V và cháu Mùa Thị Thanh X mất tích,
[1.1] Tuyên bố chị Tráng Thị V, sinh năm 1976, nơi cư trú cuối cùng: Bản K, xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu mất tích.
[1.2] Tuyên bố cháu Mùa Thị Thanh X, sinh ngày 17/02/2004, nơi cư trú cuối cùng Bản K, xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu mất tích.
[2] Về lệ phí Tòa án: Miễn lệ phí giải quyết việc dân sự cho anh Mùa A T. Trả lại cho anh Mùa A T số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2016/0000929 ngày 13/01/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
[3] Người yêu cầu có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện Tân Uyên; - Người yêu cầu; - UBND xã H; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Dương Thị Tuyết Thanh |