vanban.org

Quyết định 05/2021/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn N về việc tuyên bố ông Lê Nguyên T, sinh năm 1991; Nơi cư trú cuối cùng: Ấp Vườn Bưởi, xã L, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước mất tích. Về lệ phí giải quyết việc dân sự và chi phí tố tụng: Ông Nguyễn N phải chịu 300.000đồng lệ phí việc dân sự sơ thẩm, được khấu … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "NGUYỄN N. LÊ NGUYÊN T"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 369 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC NINH
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 05/2021/QĐDS-ST
Ngày: 07/6/2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lê Thị Kiều Chinh Thư ký phiên họp: Bà Hồ Thị Oanh – Thư ký Tòa án Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Như Mai Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 122/2020/TLST-DS ngày 08 tháng 10 năm 2020, về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 05/2021/QĐST-DS ngày 20 tháng 5 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn N, sinh năm 1967

Địa chỉ: Thôn 2A, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Nguyễn Tiến, sinh năm 1991

Địa chỉ: ấp Vườn Bưởi, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Ý kiến của người yêu cầu giải quyết việc dân sự là ông Nguyễn N: Bà Nguyễn Thị Thúy P là con gái của ông Nguyễn N, chồng bà P là ông Lê Nguyên T. Ông T có hộ khẩu thường trú tại ấp Vườn Bưởi, xã L, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. Ông T và bà P chung sống với nhau và có 01 người con chung là Lê Nguyễn B A, sinh ngày 09/3/2017. Đến năm 2018 đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện Lộc Ninh. Trong quá trình chung sống, giữa bà P và ông T xảy ra mâu thuẫn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà P về nhà ông N sống. Tháng 6/2018, ông T cắt chuyển hộ khẩu về xã T, Thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Tuy nhiên, ông T không đăng ký nhập khẩu tại xã T, Thành phố Đ mà bỏ đi đâu không rõ. Tháng 11 năm 2018 bà P chết, cháu B A sống với gia đình ông Nguyễn N. Từ tháng 6/2018 đến nay, gia đình ông N không có tin tức gì về ông T. Nay ông Nguyễn N yêu cầu Tòa án tuyên bố ông T mất tích để ông N được nhận quyền chăm sóc nuôi dưỡng cháu B A.

Bà Huỳnh Thị H1, là mẹ ruột của ông Lê Nguyên T trình bày: Ông T và bà Nguyễn Thị Thúy P là vợ chồng, ông N là bố vợ của ông T. Trong thời gian chung sống giữa bà P và ông T xãy ra mâu thuẫn nên năm 2018 bà P về sống với cha mẹ, còn ông T cắt hộ khẩu ở xã L để đi Thành phố Đ sinh sống. Tuy nhiên, từ khi ông T đi không liên lạc với bà H1, còn liên lạc với chị Lê Thị H2 (con gái của bà H1) không thì bà không biết.

Người làm chứng chị Lê Thị H2 trình bày: Chị H2 là em ruột của ông Lê Nguyên T. Chị H2 sống cùng với bà H1. Từ khi ông T cắt hộ khẩu đi Thành phố Đ đến nay, thỉnh thoảng ông T có về nhà. Chị H2 có liên lạc, gọi điện thoại với ông T qua Facebook (Po Sport) của ông T. Lần gần nhất là khoảng đầu năm 2021 ông T có về nhà mẹ là bà H1 ở xã L. Ông T hiện đang sống ở thành phố Thành phố Đ nhưng địa chỉ cụ thể chị H2 không rõ vì ông T không cho biết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, thư ký phiên họp kể từ khi thụ lý vụ việc cho đến trước khi ra quyết định giải quyết việc dân sự là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật tố tụng của các đương sự là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung giải quyết vụ việc: Căn cứ Điều 68 Bộ luật dân sự; Điều 369, Điều 370 Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn N về việc yêu cầu tuyên bố ông Lê Nguyên T, sinh năm 1991. Nơi cư trú cuối cùng: Ấp Vườn Bưởi, xã L, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước, mất tích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh nhận định:

Về tố tụng: Ông Nguyễn N có đơn yêu cầu tuyên bố mất tích đối với ông Lê Nguyên T nên xác định quan hệ pháp luật việc dân sự là “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo quy định tại khoản 3 Điều 27 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông Lê Nguyên T có nơi cư trú cuối cùng tại xã L, huyện Lộc Ninh nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Về nội dung:

Căn cứ tài liệu do ông Nguyễn N cung cấp (đơn xin xác nhận có xác nhận của chính quyền địa phương và giấy chứng nhận đăng ký hết hôn của bà Nguyễn Thị Thúy P, ông Lê Nguyên ông T) xác định ông T và bà P chung sống có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện Lộc Ninh. Bà P và ông T có con chung tên Lê Nguyễn B A, sinh ngày 09/3/2017. Năm 2018 bà P chết, ông N là bố của bà P đang nuôi cháu B A. Từ tháng 6/2018 đến nay, gia đình ông N không có tin tức gì về ông T.

Theo lời khai của ông Nguyễn N và biên bản xác minh tại Công an xã L thì ông Lê Nguyên T đã cắt chuyển hộ khẩu từ ngày 04/6/2018 về xã T, Thành phố Đ, hiện nay không còn ở địa phương. Theo văn bản trả lời của Công an Thành phố Đ thì ông T chưa đăng ký thường trú tại xã T, Thành phố Đ, hiện nay đi đâu không biết. Ông Nguyễn N đã tìm kiếm ông Lê Nguyên T nhưng vẫn không có tin tức gì của ông T.

Quá trình giải quyết vụ việc, Tòa án đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số đối với ông Lê Nguyên T. Thông báo tìm kiếm được đăng trên báo Nhân dân 03 số liên tiếp 20, 21, 22 vào các ngày 06, 07, 08/10/2020; Phát trên Đài tiếng nói Việt Nam 03 ngày liên tiếp vào các ngày 30/11/2020 đến ngày 02/12/2020; Đăng trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao. Nay đã hết thời hạn 04 tháng tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức về ông Lê Nguyên T.

Qua làm việc với bà Huỳnh Thị H1, là mẹ ruột của ông T, bà H1 xác định ông T và bà Nguyễn Thị Thúy P là vợ chồng, ông N là bố vợ của ông T. Trong thời gian chung sống giữa bà P và ông T có mâu thuẫn nên năm 2018 bà P về sống với cha mẹ, còn ông T cắt hộ khẩu ở xã L để đi Thành phố Đ sinh sống. Tuy nhiên, từ khi ông T đi thì không liên lạc với bà H1.

Theo chị H2 (con của bà H1), từ khi ông T cắt hộ khẩu đi Thành phố Đ đến nay thỉnh thoảng có về nhà. Chị H2 có liên lạc, gọi điện thoại với ông T qua Facebook (Po Sport) của ông T. Lần gần nhất là khoảng đầu năm 2021 ông T có về nhà mẹ là bà H1 ở xã L. Ông T hiện đang sống ở thành phố Thành phố Đ nhưng địa chỉ cụ thể chị H2 không rõ vì ông T không cho biết.

Như vậy, có căn cứ xác định gia đình ông Lê Nguyên T vẫn liên lạc và có thông tin về ông T. Do đó, việc ông Nguyễn N yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Lê Nguyên T mất tích là không có cơ sở chấp nhận.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự và chi phí tố tụng: Ông Nguyễn N phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Chi phi đăng tin trên đài tiếng nói Việt Nam và báo Nhân dân: 4.600.000đ (Bốn triệu sáu trăm ngàn đồng) ông Nguyễn N phải chịu, được khấu trừ vào số tiền đã nộp.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điềm b khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 369, Điều 370, Điều 371 Điều 371, Điều 372, Điều 388, Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật dân sự;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn N về việc tuyên bố ông Lê Nguyên T, sinh năm 1991; Nơi cư trú cuối cùng: Ấp Vườn Bưởi, xã L, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước mất tích.

2. Về lệ phí giải quyết việc dân sự và chi phí tố tụng: Ông Nguyễn N phải chịu 300.000đồng lệ phí việc dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001283 ngày 08 tháng 10 năm 2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lộc Ninh.

Chi phí đăng tin trên đài tiếng nói Việt Nam và Báo Nhân dân: 4.600.000đ (Bốn triệu sáu trăm ngàn đồng) ông Nguyễn N phải chịu được khấu trừ vào số tiền ông N đã nộp.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được Quyết định hoặc Quyết định được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ