vanban.org

Quyết định 05/2021/QĐ-PT — Tranh chấp về thừa kế tài sản

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 05/03/2021 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 05/03/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Huỷ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 38/2020/QĐST-DS ngày 29 tháng 12 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng; chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng để tiếp tục giải quyết vụ án.

Về án phí dân sự: Về án phí dân sự sơ thẩm: Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Bà Trần Thị B - Bà Nguyễn Thị I"
  • Tòa quyết gì? Huỷ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 38/2020/QĐST-DS ngày 29 tháng 12 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng; chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng để tiếp tục giải quyết vụ án.
  • Căn cứ chính? Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 05/2021/QĐ-PTHải Phòng, ngày 05 tháng 3 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Minh Phương

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Thuỷ

Ông Lê Anh Sơn

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên họp: Ông Hà Văn Dỏn - Kiểm sát viên.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 38/2020/QĐST-DS ngày 29 tháng 12 năm 2020, Toà án nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng đã căn cứ vào quy định tại điểm g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất, giữa:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị B, sinh năm 1955; nơi cư trú: Tổ 4 Khu 5 phường C, thành phố D, tỉnh Quảng Ninh;

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Hoàng Thị E, sinh năm 1994; nơi cư trú: Số 84 phố G, phường H, thành phố D, tỉnh Quảng Ninh (Giấy uỷ quyền ngày 26 tháng 02 năm 2021);

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị I, sinh năm 1970; nơi cư trú: Thôn K, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Đức M, sinh năm 1977; nơi cư trú: Tổ 26 khu 3, phường Cao Thắng, thành phố D, tỉnh Quảng Ninh;

2. Anh Nguyễn Đức N, sinh năm 1980; nơi cư trú: Tổ 4 Khu 5 phường C, thành phố D, tỉnh Quảng Ninh;

3. Anh Nguyễn Đức O, sinh năm 1982; nơi cư trú: Tổ 4 Khu 5 phường C, thành phố D, tỉnh Quảng Ninh;

4. Chị Nguyễn Thị Hồng P, sinh năm 1988; nơi cư trú: Tổ 6 Khu 55 phường C, thành phố D, tỉnh Quảng Ninh.

Người đại diện hợp pháp của anh Nguyễn Đức M, anh Nguyễn Đức O, chị Nguyễn Thị Hồng P: Anh Nguyễn Đức N, sinh năm 1980; nơi cư trú: Tổ 4 Khu 5 phường C, thành phố D, tỉnh Quảng Ninh (Giấy uỷ quyền ngày 23/11/2020).

Tại đơn kháng cáo nhận ngày 11 tháng 01 năm 2021, nguyên đơn – bà Trần Thị B đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 38/2020/QĐST-DS ngày 29 tháng 12 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng. Lý do nguyên đơn kháng cáo: Quyết định không đúng với sự thật khách quan, trái quy định của pháp luật, xâm phạm đến quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn khởi kiện buộc bị đơn phải trả lại quyền sử dụng hai thửa đất mà nguyên đơn cho rằng thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Nguyễn Văn Q, hiện bị đơn đang quản lý. Do ông Q đã chết ngày 31/5/2018 nên đó là di sản của ông Q để lại cho nguyên đơn và các con chung. Vì thế đây là tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất và theo quy định của pháp luật không phải hoà giải tại cơ sở trước khi khởi kiện.

XÉT THẤY:

- Về thẩm quyền giải quyết: Việc kháng cáo quyết định đình chỉ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm - quy định tại Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Theo nội dung đơn khởi kiện:

Bà B và ông Nguyễn Văn Q chung sống với nhau từ năm 1976 nhưng đến ngày 13/12/2002 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường R, quận S, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống, ông Q và bà B có 04 người con chung là: Anh Nguyễn Đức M; anh Nguyễn Đức Hòa; anh Nguyễn Đức O và chị Nguyễn Thị Hồng P. Ngày 31/5/2018, ông Q chết không để lại di chúc. Trong thời kỳ hôn nhân với bà B, ông Q và bà Nguyễn Thị I (bị đơn) cùng đứng tên chủ sử dụng thửa đất số 65 và thửa số 62, tờ bản đồ số 271-D-1; đất ở; địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng đã được Ủy ban nhân dân huyện A cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 948371 và số AL 948373 ngày 12/8/2013.

Nay ông Q chết nên bà B khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị I trả lại hai thửa đất nêu trên là di sản thừa kế của ông Q để lại cho bà B cùng các con chung.

Tại phiên họp,

Người đại diện hợp pháp của bà B giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đề nghị Hội đồng phúc thẩm xem xét huỷ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Toà án cấp sơ thẩm, tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết kháng cáo: Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 192, điểm g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự để đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bà B, huỷ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án cấp sơ thẩm để tiếp tục giải quyết vụ án.

Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

Theo đơn khởi kiện nhận ngày 22/10/2020, đơn khởi kiện bổ sung ngày 11/11/2020; Biên bản làm việc ngày 11/11/2020, nguyên đơn xác định yêu cầu khởi kiện là kiện đòi quyền sử dụng hai thửa đất số 65, tờ bản đồ số 271-D-1 và thửa đất số 62, tờ bản đồ số 271-D-1; địa chỉ các thửa đất tại Thôn T, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng hiện bị dơn đang quản lý, sử dụng.

Theo các tài liệu ban đầu nguyên đơn nộp kèm theo Đơn khởi kiện và đơn khởi kiện bổ sung, có cơ sở xác định bà Trần Thị B và ông Nguyễn Văn Q có quan hệ hôn nhân hợp pháp. Ông Q và bà B có 04 người con chung là anh Nguyễn Đức M, anh Nguyễn Đức N, anh Nguyễn Đức O và chị Nguyễn Thị Hồng P. Căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 948371 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 948373 do Uỷ ban nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng cấp cùng ngày 12/3/2008 thì ông Nguyễn Văn Q và bà Nguyễn Thị I cùng đứng tên quyền sử dụng diện tích đất ở là 205m2 tại thửa số 65, tờ bản đồ số 271-D-1 và diện tích đất ở là 504m2 tại thửa số 62, tờ bản đồ số 271-D-1; cùng địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng.

Hiện ông Nguyễn Văn Q đã chết nên bà B (nguyên đơn) và các con chung (những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) – là những người thuộc diện thừa kế của ông Nguyễn Văn Q có quyền khởi kiện đòi phần tài sản thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Q nên Toà án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là kiện đòi tài sản là đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, quan hệ tranh chấp này không thuộc trường hợp phải hoà giải tại Uỷ ban nhân dân xã, phường nơi có đất tranh chấp nên cần chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn – bà Trần Thị B, huỷ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 38/2020/QĐST-DS ngày 29 tháng 12 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng, chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân huyện A tiếp tục giải quyết vụ án – khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao; Điều 202 Luật Đất đai; điểm c khoản 5 Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về án phí dân sự:

+ Về án phí dân sự sơ thẩm: Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

+ Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà B không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật - khoản 3 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Căn cứ vào điểm c khoản 5 Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Huỷ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 38/2020/QĐST-DS ngày 29 tháng 12 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng; chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng để tiếp tục giải quyết vụ án.

2. Về án phí dân sự:

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị B không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại bà Trần Thị B 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm số 11665 ngày 18/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A, thành phố Hải Phòng.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ