- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Phương A và đồng bọn tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
- Tòa quyết gì? Trả hồ sơ vụ án hình sự sở thẩm thụ lý số: 21/2021/TLST- HS ngày 08 tháng 02 năm 2021 đối với các bị cáo:
- Căn cứ chính? Điều 280 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 299 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 05/2021/HSST-QĐ | Ninh Kiều, ngày 25 tháng 5 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, TP.CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lai Ngọc Trí
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Thị Thiện
2. Bà Đỗ Thị Lệ Hằng
Căn cứ các Điều 280 và Điều 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ kết quả việc xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa:
Xét thấy: Hồ sơ vụ án còn thiếu các chứng cứ để chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Thị B, Nguyễn Thị Hằng C, Nguyễn Thị Ngọc D. theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.
QUYẾT ĐỊNH:
Trả hồ sơ vụ án hình sự sở thẩm thụ lý số: 21/2021/TLST- HS ngày 08 tháng 02 năm 2021 đối với các bị cáo:
1. Trần Phương A, sinh năm 1977. Nơi sinh: thành phố Hồ Chí Minh. Nghề nghiệp: Tài xế
Bị truy tố về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
2. Nguyễn Thị B, sinh năm 2000. Nơi sinh: Hậu Giang. Nghề nghiệp: Không.
3. Nguyễn Thị Hằng C, sinh năm 1996. Nơi sinh: Hậu Giang. Nghề nghiệp: Không.
4. Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 2000. Nơi sinh: Hậu Giang. Nghề nghiệp: Không.
Bị truy tố về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c, i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Cho Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
Để điều tra bổ sung những vấn đề sau đây:
Tại Cáo trạng số 13/CT-VKSNK ngày 28/12/2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều nhận định: Các bị cáo Nguyễn Thị B, Nguyễn Thị Hằng C và Nguyễn Thị Ngọc D mặc dù không hùn tiền mua ma túy nhưng biết rõ đây là chất cấm nhưng vẫn đồng ý tàng trữ và cùng bị cáo A sử dụng nên phải chịu trách nhiệm đối với khối lượng ma túy 1,1185 gam ma túy MDMA còn lại chưa sử dụng hết cùng với bị cáo A.
Qua kết quả xét hỏi tại phiên tòa và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy chưa có đủ cơ sở để chứng minh cho nhận định trên. Bởi lẽ, căn cứ theo quy định tại điều 249 Bộ luật Hình sự thì “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy…..thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”. Theo đó, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy được hiểu là cất giữ, cất giấu bất hợp pháp chất ma túy ở bất cứ nơi nào như trong nhà, cất giấu trong quần áo, tư trang mặc trên người hoặc theo người… mà không nhằm mục đích mua bán hay sản xuất trái phép chất ma túy.
Hơn nữa, tại phiên tòa các bị cáo C, B, D đều khẳng định: Phòng 1209 tại khác sạn Ninh Kiều Reverside không phải do các bị cáo thuê; các bị cáo được rủ đến chỉ để uống rượu bia phục vụ để nhận tiền bo; các bị cáo không biết ma túy là của ai; các bị cáo không có hùn tiền hay thỏa thuận về việc mua ma túy trước đó; đồng thời khi bị bắt ma túy được để trên bàn trong phòng ngủ không phải trong người hay vật dụng của các bị cáo. Những lời khai trên phù hợp với các tình tiết và lời khai có trong hồ sơ vụ án, các bị cáo không có các hành vi như điều luật đã quy định. Vì vậy, việc truy tố các bị cáo về hành vi đồng phạm tang trữ trái phép chất ma túy là chưa đủ cơ sở.
Tuy tại phiên tòa các bị cáo C, D và B đề nhận tội, nhưng cần khẳng định rằng, theo quy định tại khoản 2 Điều 98 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định “Lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ được coi là chứng cứ nếu phù hợp với những chứng cứ khác của vụ án.
Không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cao làm chứng cứ duy nhất để buộc tội”
Vì vậy, Viện kiểm sát truy tố C, B và D dựa trên việc đã sử dụng và nhìn thấy lượng ma túy còn lại sau khi sử dụng bị công an thu giữ làm cơ sở để xác định định lượng truy tố về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là chưa đủ cơ sở và chưa phù hợp với quy định pháp luật.
Do đó, cần phải làm rõ ngoài lời khai của các bị cáo thì còn chứng cứ khác thể hiện giữa các bị cáo có sự thỏa thuận, bàn bạc về hành vi mua ma túy hay không? Có việc bàn bạc thuê, mướn địa điểm, chuẩn bị dụng cụ… để sử dụng ma túy hay không? Nếu có vai trò đồng phạm thì việc bàn bạc, thỏa thuận như thế nào? Làm rõ vai trò cụ thể của từng bị cáo?
| Nơi nhận: - VKSND Q. Ninh Kiều (kèm hồ sơ vụ án); - Hồ sơ vụ án; - Lưu Tòa án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lai Ngọc Trí |