- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Quyêt định sơ thẩm giải quyết việc dân sự"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu c u c a anh Ngu n Đ ng T
- Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số 05/2020/QĐST - VDS | U, ngày 30 tháng 11 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”.
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lê Thị Diếu
Thư ký phiên họp: Bà Đỗ Thị Thu Nha – Thư ký Tòa án nhân dân huyện U.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U tham gia phiên họp: Bà Hoàng Thị Thương Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2020 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện U mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 30/2020/TLST-VDS ngày 23 tháng 6 năm 2020 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 05/2020/QĐST - VDS ngày 19 tháng 11 năm 2020
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Nguyễn Đăng T, sinh năm 1974. Có mặt.
Trú tại: Thôn Q, xã E, huyện U, Quảng Ngãi.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Huỳnh Thị B, sinh năm 1984
Địa chỉ cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn Q, xã E, huyện U, Quảng Ngãi. Vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 18/5/2020, bản tự khai và tại phiên họp anh Nguyễn Đăng T trình bày:
Anh và chị Huỳnh Thị B tự nguyện tìm hiểu yêu thương và có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện U, tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 31/10/2003. Trong thời gian chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc và có 02 người con chung là Nguyễn Đăng L và Nguyễn Thị Quỳnh H. Nhưng đến đầu năm 2014 anh đi làm ăn xa thì chị Huỳnh Thị B ở nhà có quan hệ ngoại tình với người đàn ông khác và bỏ nhà đi khỏi địa phương từ ngày 22/7/2014 cho đến nay, không có tin tức gì. Anh đã nhiều lần đi tìm và tìm cách liên lạc nhưng vẫn không biết cụ thể chị B hiện đang ở đâu, làm gì. Vào năm 2018, anh đã làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện U Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với chị B và Tòa án đã ra Quyết định giải quyết việc dân sự số 02/2018/QĐDS- ST ngày 02/5/2018, thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với chị B trên Báo, Đài tiếng nói Việt Nam, nhưng đến nay vẫn không rõ tin tức gì về chị Huỳnh Thị B. Nay, anh yêu cầu Tòa án nhân dân huyện U tuyên bố Chị Huỳnh Thị B, sinh năm 1984, địa chỉ cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn Q, xã E, huyện U, Quảng Ngãi mất tích.
Về con chung, tài sản chung: Anh Nguyễn Đăng T không yêu cầu Tòa án xem xét.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U đề nghị Toà án áp dụng Điều 369, Điều 370 Bộ luật tố tụng Dân sự và Điều 68, Điều 69 Bộ luật Dân sự chấp nhận đơn yêu cầu của anh Nguyễn Đăng T về việc yêu cầu tuyên bố chị B mất tích. Anh Nguyễn Đăng T phải nộp tiền lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện U nhận định:
Về thẩm quyền:
Chị Huỳnh Thị B có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn Q, xã E, huyện U, Quảng Ngãi, nơi cư trú cuối cùng của chị B: Thôn Q, xã E, huyện U, Quảng Ngãi. Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm a Khoản 2 Điều 35, điểm b Khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, yêu cầu của anh Nguyễn Đăng T đề nghị Tòa án tuyên bố chị Huỳnh Thị B mất tích thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện U, tỉnh Quảng Ngãi.
[2 ] Về nội dung:
Anh Nguyễn Đăng T và chị Huỳnh Thị B tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện U, tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 31/10/2003, nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Trong quá trình chung sống, kể từ tháng 7 năm 2014 cho đến nay chị Huỳnh Thị B bỏ đi khỏi địa phương, không có tin tức gì, không rõ địa chỉ nơi cư trú mới của chị B. Vào năm 2018, anh T đã làm đơn yêu cầu Tòa án Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với chị B và đã được Tòa án nhân dân huyện U chấp nhận ra Quyết định giải quyết việc dân sự số 02/2018/QĐDS- ST ngày 02/5/2018 và đăng thông báo tìm kiếm chị B trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhưng đến nay vẫn không có tin tức gì của chị B
Theo xác nhận của Công an xã E, huyện U, tỉnh Quảng Ngãi thì chị Huỳnh Thị B đã bỏ đi khỏi địa phương từ tháng 7 năm 2014 cho đến nay không trở về, không có tin tức gì, phù hợp với lời khai của anh Nguyễn Đăng T tại Tòa án.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 86/2020/QĐ- TA ngày 08/7/2020 đối với chị Huỳnh Thị B. Sau đó, anh Nguyễn Đăng T đã liên hệ đăng phát thông báo tìm kiếm chị Huỳnh Thị B trên Đài tiếng nói Việt Nam, phát VOV2 vào lúc 17 giờ 30 phút các ngày 17,18,19 tháng 7 năm 2020 và Báo công lý trên ba số báo liên tiếp vào các ngày 14, 17, 21 tháng 7 năm 2020 để nhắn tìm chị Huỳnh Thị B. Tuy nhiên, đến nay hết thời hạn thông báo tìm kiếm nhưng chị B không trở về địa phương, không có tin tức xác thực về việc chị B còn sống hay đã chết.
Căn cứ Khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “ Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức gì xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích”.
Từ các căn cứ nêu trên, Tòa án có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Đăng T về việc tuyên bố chị Huỳnh Thị B mất tích.
[ 3] Về con chung, tài sản chung: Anh Nguyễn Đăng T không yêu cầu, nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U phù hợp với nhận định trên, nên được chấp nhận.
[ 5] Lệ phí giải quyết việc dân sự: Áp dụng Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, buộc anh Nguyễn Đăng T phải chịu 300.000 đồng.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 3 Điều 27, điểm a Khoản 2 Điều 35, điểm b Khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372 và Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Chấp nhận đơn yêu c u c a anh Ngu n Đ ng T
1. Tuyên bố chị Huỳnh Thị B, sinh ngày 18/10/1980, hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Thôn Q, xã E, huyện U, tỉnh Quảng Ngãi mất tích.
2. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Nguyễn Đăng T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng mà anh T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/ 0004604 ngày 23/6/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện U.
3. Anh Nguyễn Đăng T có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - Chi cục THA huyện U; - VKSND huyện U; - Người yêu cầu; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Lê Thị Diếu |