- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "anh P yêu cầu tuyên bố chị B mất tích"
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! HUYỆN!MÈO!VẠC! !TỈNH!HÀ!GIANG! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 05/2020/QĐST-VDS | Mèo Vạc, ngày 14 tháng 5 năm 2020 |
QUYẾT!ĐỊNH
SƠ!THẨM!GIẢI!QUYẾT!VIỆC!DÂN!SỰ
V/v!Yêu!cầu!tuyên!bố!một!người!mất!tích!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!MÈO!VẠC,!TỈNH!HÀ!GIANG
Thành"phần"giải"quyết"việc"dân"sự"gồm"có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thúy Yên.
Thư ký phiên họp: Ông Củng Trẩn Lương - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang tham gia phiên họp: Ông Vừ Mí Sính - Kiểm sát viên."
Ngày 14 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 04/2019/TLST-VDS, ngày 17 tháng 12 năm 2019 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 09/2020/QĐST-VDS, ngày 11 tháng 5 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Vừ Mí P, sinh năm 2000; nơi cư trú: Thôn L, xã L1, huyện M, tỉnh H.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu giải quyết việc dân sự và là người được anh Vừ Mí P ủy quyền: Ông Nguyễn Xuân Giang, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm TGPLNN tỉnh Hà Giang. Có mặt.
Người bị yêu cầu: Chị Giàng Thị B; sinh năm 1989; HKTT và nơi cư trú cuối cùng: Thôn L, xã L1, huyện M, tỉnh H.
NỘI!DUNG!VIỆC!DÂN!SỰ:!
!Theo đơn yêu cầu đề ngày 11/11/2019, các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ, biên bản lấy lời khai và tại phiên họp, anh Vừ Mí P và người đại diện theo ủy quyền của người yêu cầu trình bày:!Anh Vừ Mí P có anh trai là Vừ Mí S. Vừ Mí S kết hôn với chị Giàng Thị B sinh được ba con là Vừ Mí T (2009), Vừ Mí B (2012), Vừ Mí V (2016). Năm 2016 anh Vừ Mí S chết, chị
1
Giàng Thị B sau đó đã bỏ đi khỏi địa phương từ tháng 02/2017 cho đến nay, không nói cho ai biết, không biết đi đâu, không biết còn sống hay đã chết. Gia đình đã áp dụng nhiều biện pháp tìm kiếm đến nay vẫn không rõ tung tích, đã báo cáo chính quyền địa phương, anh liên hệ với người thân thích trong gia đình và bạn bè của chị Giàng Thị B nhưng không có kết quả, ba cháu con anh S chị B hiện nay anh đang nuôi dưỡng. Anh đề nghị Tòa án nhân dân huyện M tuyên bố chị Giàng Thị B mất tích theo quy định của pháp luật. Anh xin được miễn lệ phí sơ thẩm.
Tại phiên họp, người đại diện theo ủy quyền của anh Vừ Mí P vẫn giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án tuyên bố chị Giàng Thị B mất tích.
Tại phiên họp, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự của Thẩm phán, Thư ký, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Thực hiện theo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Về nội dung: Đề nghị Tòa án áp dụng Điều 68 Bộ luật dân sự và Điều 369, 370, 388, 389 của Bộ luật tố tụng dân sự để chấp nhận yêu cầu của người yêu cầu.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh H nhận định:
[1] Về tố tụng: Anh Vừ Mí P có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Giàng Thị B mất tích, là việc dân sự không có tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, chị Giàng Thị B có nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích tại huyện M, căn cứ khoản 3 điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 361 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định quan hệ pháp luật của việc dân sự là “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh H.
[2] Về nội dung: Ngày 11/11/2019 anh Vừ Mí P có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Giàng Thị B mất tích. Tòa án đã ban hành Quyết định số 04/2019/QĐ-TA, ngày 19/12/2019 thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là chị Giàng Thị B, nhắn tin trên Đài tiếng nói Việt Nam (VOV2) vào 17 giờ 30 phút các ngày 14, 15, 16 tháng 01 năm 2020; nhắn tin trên Báo Công lý trong ba số liên tiếp 3, 4, 5 ra các ngày 8, 10, 15 tháng 01 năm 2020. Đến nay đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên, nhưng việc tìm kiếm chị B vẫn không có tin tức gì, không có kết quả xác thực chị B còn sống hay đã chết. Qua xác minh tại địa phương, chị Giàng Thị B, sinh năm 1989; có hộ khẩu tại Thôn L, xã L1, huyện M, tỉnh H
2
đã bỏ đi khỏi nơi cư trú, biệt tích từ đầu năm 2017 đến nay không có tin gì, không biết là còn sống hay đã chết. Chị B đã biệt tích quá 02 năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực về việc chị B còn sống hoặc đã chết. Xét yêu cầu tuyên bố chị Giàng Thị B mất tích của anh Vừ Mí P là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự và khoản 3 Điều 27, Điều 387, 388 và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự nên chấp nhận.
[3] Anh Vừ Mí P không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị yêu cầu tuyên bố mất tích, nên Tòa án không xem xét.
[4] Về lệ phí và chi phí tố tụng khác: Anh Vừ Mí P có đơn xin miễn lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự được chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về chi phí thông báo trên báo, đài trung ương đã được Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H hỗ trợ kinh phí đăng thông báo tìm kiếm theo Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐND ngày 19/7/2019 của Hội đồng nhân dân tỉnh H, nên không xem xét.
QUYẾT!ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, Điều 361, Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 387, 388 và Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật dân sự;
- Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Vừ Mí P:
Tuyên bố chị Giàng Thị B, sinh năm 1989; HKTT và nơi cư trú cuối cùng: Thôn L, xã L1, huyện M, tỉnh H mất tích.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Miễn toàn bộ lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự cho anh Vừ Mí P, theo Thông báo số 04/TB-TA ngày 17/12/2019 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh H.
3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định; đối với đương sự vắng mặt (nếu có), thời hạn kháng cáo tính từ ngày quyết định được niêm niêm yết.Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong
3
thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Nơi"nhận:"
THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!HỌP!
- Đương sự;"
- TAND tỉnh Hà Giang;
- VKSND tỉnh Hà Giang;
- VKSND huyện Mèo Vạc;
- UBND xã Lũng Pù;
- TTTGPLNN tỉnh Hà Giang;
- Lưu: Hồ sơ việc dân sự.
Nguyễn!Thị!Thúy!Yên!
4