vanban.org

Quyết định 05/2019/QĐST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu “ Tuyên bố một người mất tích” của anh Trương Văn Ph

Tuyên bố chị Cao Thị D, sinh năm 1979; địa chỉ Thôn Chiềng 1, xã Cẩm Q, huyện C, tỉnh Thanh Hóa mất tích. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Ph phải nộp 300.000đ lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được trừ vào số tiền tạm ứng 300.000đ anh đã nộp theo biên lai thu số AA/2017/0003793, ngày 12/1… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Tuyên bố một người mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu “ Tuyên bố một người mất tích” của anh Trương Văn Ph
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 05 /2019/QĐSTC , ngày 16 tháng 05 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc: Yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TINH THANH HÓA

Thành phần giải quyết việc Dân sự gồm có: Thẩm Phán -Chủ toạ phiên họp: Ông Vũ Văn Nga . Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thị Lan - Thư ký Toà án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tham gia phiên họp Bà: Bùi Thị Bích - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 05 năm 2019, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 01/2018/TLST- VDS, ngày 13 tháng 12 năm 2018, về việc Yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo quyết định sơ thẩm mở phiên họp số 06/2019/QĐST, ngày 28/04/2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Trương Văn Ph - Sinh năm 1974

Nơi ĐKHKTT: Thôn Ch 1, xã Cẩm Q, huyện C,Thanh Hóa

Nơi ở hiện nay: Thôn Lạc L2, xã Cẩm Ph, huyện C

Vắng mặt tại phiên họp, có đơn xin vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Cao Thị D – Sinh ngày 10/4/1979

Địa chỉ: Thôn Ch 1, xã Cẩm Q, huyện C,Thanh Hóa

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Những vấn đề cụ thể người yêu cầu Tòa án giải quyết: Theo đơn yêu cầu anh Trương Văn Ph trình bày: Anh và chị Cao Thị D lấy nhau vào đầu năm 1996, không có đăng ký kêt hôn, sau khi lấy nhau vợ chồng về làm nhà ở riêng tại thôn Ch 1, xã Cẩm Q, huyện C. Cuộc sống vợ chồng, hòa thuận, hạnh phúc, tháng 5/1996 vợ anh sinh con đầu, tháng 10/1997 sinh con thứ hai, đến ngày 02/2001 vợ chồng mới đi đăng ký kết hôn tại UBND xã Cẩm Q. Tháng 9/2004 sinh con thứ 3, năm 2007 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn sau đó vợ chồng sống ly thân. Đến năm 2008 chị D bỏ nhà đi đâu không biết, không có liên lạc gì với anh và gia đình, anh không biết chị làm gì, địa chỉ ở đâu. Anh về quê của chị D để hỏi tin tức, nhưng gia đình cũng không biết chị D ở đâu. Nay xét thấy chị D bỏ nhà đi thời gian đã lâu, tình cảm vợ chồng không còn, để ổn định cuộc sống cho bản thân, anh đề nghị Tòa án tuyên bố chị D mất tích để có cơ sở giải quyết việc ly hôn giữa anh và chị D.

Tại phiên họp đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Thanh Hóa, kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

+ Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết việc dân sự Thẩm phán và người yêu cầu đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

+ Về nội dung: Áp D Điều 68, khoản 2 Điều 367 Bộ luật Dân sự, xét vắng mặt người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và chấp nhận đơn yêu cầu của Anh Trương Văn Ph về tuyên bố chị Cao Thị D mất tích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp, Tòa án huyện C nhận đinh:

[1] Về tố tụng: Anh Ph có đơn xin giải quyết vắng mặt phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 367 Bộ luật dân sự nên được chấp nhận

Về yêu cầu của đương sự: Anh Ph và chị D lấy nhau vào năm 1996, năm 2001 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Cẩm Q. Vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc từ năm 1996 đến năm 2008, đã có ba con chung, nay các cháu đều đã trưởng thành. Năm 2007 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, đến năm 2008 chị D tự ý bỏ nhà đi không rõ địa chỉ ở đâu. Anh Ph và các con, gia đình, người thân không biết tin tức gì về chị D .

Chính quyền địa phương UBND xã Cẩm Q, huyện C và gia đình chị D đã xác nhận chị D đã bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2008. Hiện nay chị D không có mặt tại địa phương, không rõ địa chỉ ở đâu là thực tế. Tại phiên họp đại diện viện kiểm sát đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu của anh Trương Văn Ph tuyên bố chị Cao Thị D mất tích.

Sau khi thụ lý đơn yêu cầu. Tòa án đã tiến hành xác minh, ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích theo quy định tại Điều 387, Điều 388 và Điều 389 -BLTTDS.

Báo Nhân dân đã đăng tin nhắn tìm chị D trên ba kỳ báo liên tiếp các ngày 22, 23 và 24/12/2018.

Đài tiếng nói Việt nam kênh VOV đã phát sóng đăng tin tìm chị D vào các ngày 25, 26 và 27/12/2018. Đã hết thời hạn 4 tháng kể từ khi nhắn tin tìm kiếm lần cuối cùng đến nay Tòa án không có tin tức gì về chị D. Như vậy, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của anh Ph theo quy định tại Khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự: Tuyên bố chị CaoThị D mất tích.

Về lệ phí: Anh Ph phải chịu lệ phí Việc Dân sự theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 68 - Bộ luật dân sự, khoản 3 Điều 27, điểm b khoản 2 Điều 35, Điều 149, Khoản 2 Điều 367; Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 389 - Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 36/2016 UBVTH14, ngà 30/12/2016 quy định về mức thu, giảm, nộp, quản lý và sử D án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu “ Tuyên bố một người mất tích” của anh Trương Văn Ph

Tuyên bố chị Cao Thị D, sinh năm 1979; địa chỉ Thôn Chiềng 1, xã Cẩm Q, huyện C, tỉnh Thanh Hóa mất tích.

2. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Ph phải nộp 300.000đ lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được trừ vào số tiền tạm ứng 300.000đ anh đã nộp theo biên lai thu số AA/2017/0003793, ngày 12/12/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C (Anh Ph đã nộp đủ lệ phí).

3. Về quyền kháng cáo: Anh Trương Văn Ph và chị Cao Thị D có quyền kháng cáo quyết định này trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc từ ngày quyết định được niêm yết.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ