- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Tuyễn bố mất tích Nguyễn Văn Tư"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Bùi Thị Th về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự - Chấp nhận yêu cầu; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự - Chấp nhận yêu cầu
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH LIÊM TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 05/2019/QĐST-VDS | Thanh Liêm, ngày 25 tháng 11 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích"
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH LIÊM - TỈNH HÀ NAM
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lại Xuân Cảnh.
Thư ký phiên họp: Bà Hoàng Thị Vân Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam tham gia phiên họp: Ông Vũ Đình Tưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 04/2019/TLST-VDS ngày 25 tháng 6 năm 2019, về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 06/2019/QĐST-VDS ngày 18 tháng 11 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Bùi Thị Th - sinh năm 1995; trú tại: Thôn T, xã LT, huyê ̣n TL, tỉnh Hà Nam; có mặt tại phiên họp.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
* Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 24/6/2019, bản tự khai và tại phiên họp, người yêu cầu là chị Bùi Thị Th trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã Liêm Thuận, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam ngày 08/5/2013. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chi ̣ sống cùng bố mẹ anh T1 tại thôn T, xã LT, huyện TL, tỉnh Hà Nam và sinh được 01 người con chung là Nguyễn Quỳnh A - sinh ngày 22/6/2014. Anh chi ̣ chung sống hoà thuận , hạnh phúc được khoảng 01 năm thi
̀ phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hợp, trước khi kết hôn không có nhiều thời gian để tìm hiểu nhau, nên khi sống chung có nhiều bất đồng về cách sống, lối sống; hơn nữa, anh T1 mải chơi, không tu chí làm ăn, không chịu khó lao động, nên kinh tế vợ chồng khó khăn, một mình chị phải đi làm để chăm lo cho cuộc sống gia đình. Chị đã nhiều lần động viên khuyên bảo anh T1 thay đổi, muốn anh T1 đi làm để anh T1 biết chăm lo cho cuộc sống gia đình, nhưng anh T1 không nghe mà còn chửi, đánh và xúc phạm chị. Không chịu đựng được nên tháng 11/2015 chị đã bế con vào thành phố VT, tỉnh Vũng Tàu để sinh sống . Sau đó , anh T1 vào thành phố Vũng Tàu tìm chị xin lỗi và vợ chồng thuê phòng tro ̣ của ông Đào Quốc H tại số nhà 5..., đường BS, phường ..., thành phố VT, tỉnh Vũng Tàu để chung sống cùng nhau . Trong thờ i gian chung sống cùng nhau ta ̣i phườ ng ..., thành phố VT, tỉnh Vũng Tàu thi
̀ vợ chồng thườ ng xuyên xảy ra tinh tra ̣ng cai chữ
̉ i nhau , sống không có ha ̣nh
̀ phúc. Tháng 10/2016, chị chuyển đi nơi khác sinh sống, còn anh T1 ở đó thêm 01 tháng nữa, sau đó anh T1 đi đâu, làm gì thì chị không rõ. Chị xác định nơi cư trú cuối cùng của anh Nguyễn Văn T1 là số nhà 5..., đường BS, phường..., thành phố VT, tỉnh Vũng Tàu. Từ đó đến nay , anh chi ̣ không có liên la ̣c gi với nhau.
̀ Bản thân chị và gia đình đã nhiều lần tìm kiếm , nhưng không có tin tứ c gi của
̀ anh T1. Chị đa liên la ̣̃
c vớ i gia đinh anh T1 ở thôn T, xã LT nhưng bố mẹ anh T1
̀ cũng không biết anh T1 ở đâu và không có tin tức gì về anh T1. Bản thân anh T1 đã bỏ đi đã được hơn 02 năm nhưng chị, gia đình, người thân, hàng xóm đều không biết anh T1 đi đâu, làm gì; anh T1 cũng không liên lạc với ai. Nay để giải quyết việc ly hôn và để ổn định cuộc sống, chị làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với anh Nguyễn Văn T1. Sau khi Toà án đăng thông tin tìm kiếm anh Nguyễn Văn T1 trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật, đến nay chị cũng không có tin tức xác thực là anh T1 còn sống hay đã chết.
* Ngày 25/6/2019, Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm đã thụ lý đơn yêu cầu của chị Bùi Thị Th. Ngày 11/7/2019, Tòa án đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích theo đúng quy định tại các điều 384, 385 và 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Thông báo tìm kiếm này đã được đăng trên Báo Lao động trong ba số liên tiếp 162, 163, 164 vào các ngày 16, 17, 18/7/2019, Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam ngày 17/7/2019 và phát sóng trên Đài Tiếng nói Việt Nam ba lần trong ba ngày liên tiếp 16, 17, 18/7/2019. Đến nay, đã hết thời hạn thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích, nhưng anh Nguyễn Văn T1 vẫn không trở về và không có tin tức gì của anh T1.
Đa ̣i diê ̣n gia đ ình anh Nguyễn Văn T1 (ông Nguyễn Văn T 2 - bố đẻ anh T1) cung cấp: Khoảng năm 2015, chị Th bế con đi khỏi nhà ta ̣i thôn T, xã LT, huyê ̣n TL, tỉnh Hà Nam . Qua liên la ̣c vớ i chi ̣ Th, ông được biết chi ̣ Th bế con vào Vũng Tàu sinh sống. Sau đó 02 ngày anh T1 cũng vào Vũng Tàu tìm chị Th, rồi vợ chồng anh chi ̣ sinh sống ta ̣i thành phố Vũng Tàu , tỉnh Vũng Tàu từ năm 2016 đến tháng 03/2017. Đến ngày 12/6/2017, anh T1 có gọi điện thoại về c ho mẹ đẻ, hỏi thăm về tình hình gia đình . Ông xác đi ̣nh từ ngày 12/6/2017 đến nay gia đinh không còn liên la ̣c gi được vớ i anh T1. Từ đó đến nay, gia đinh ông đa ̃
̀
̀
̀ áp dụng mọi biện pháp thông tin tìm kiếm nhưng không có tin tức gì về anh T1, anh T1 cũng không liên lạc về gia đình nữa . UBND xã Liêm Thuâ ̣n cung cấp : Khoảng năm 2015, Công an xa cõ ́ cấp 01 giấy xác nhâ ̣n dân sự cho anh T1 (theo yêu cầu của anh T1, anh T1 có nói đi làm ở khu công nghiệp Đồng Văn ) nhưng không rõ anh T1 đi làm ở đâu. Đến năm 2016, anh T1 không còn sinh sống ở đi ̣a phương, khi anh T1 đi khỏi địa phương không làm thủ tục chuyển khẩu và không làm bất kỳ thủ tục gì ở địa phương, nên địa phương không nắm được địa chỉ mới của anh T1. Địa phương không có tin tức gì về anh T1, không có tin tức xác thực về việc anh T1 còn sống hay đã chết.
* Tại phiên họp,
- Chị Bùi Thị Th giữ nguyên yêu cầu, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm tuyên bố anh Nguyễn Văn T1 mất tích theo quy định của pháp luật.
- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết việc dân sự:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự và tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật; thực hiện đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người yêu cầu là chị Bùi Thị Th đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm căn cứ Điều 68 của Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 27 và các điều 149, 369, 370, 388, 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự - Chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị Th về việc tuyên bố anh Nguyễn Văn T1 mất tích. Về lệ phí chị Th phải nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam nhận định:
Về tố tụng: Căn cứ vào nội dung đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Bùi Thị Th có cơ sở xác định quan hệ pháp luật giải quyết là “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” quy định tại khoản 3 Điều 27 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 2 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự, người yêu cầu là chị Bùi Thị Th có nơi cư trú tại xã Liêm Thuâ ̣n , huyện TL, tỉnh Hà Nam; nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Thanh Liêm.
Về nội dung: Xét yêu cầu tuyên bố một người mất tích của chi ̣ Bùi Thị Th, Tòa án nhận thấy: Anh Nguyễn Văn T1 - sinh năm 1990; nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã LT, huyê ̣n TL, tỉnh Hà Nam ; nơi cư trú cuối cùng : Số nhà 52F, đường BS, phường 11, thành phố VT, tỉnh Vũng Tàu bỏ đi khỏi nơi cư trú từ tháng 11/2016 và không còn liên lạc với gia đình từ ngày 12/6/2017, đến nay đã được hơn 02 năm. Chị Bùi Thị Th cùng gia đình đã tìm kiếm song không biết anh T1 ở đâu. Tòa án đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích và đăng thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật, nhưng đến nay vẫn không có tin tức gì của anh T1.
Nay có đủ cơ sở để xác định anh Nguyễn Văn T1 đã biệt tích hơn 02 năm liền, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc anh T1 còn sống hay đã chết. Việc chị Bùi Thị Th làm đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với anh Nguyễn Văn T1 là có cơ sở, nên chấp nhận.
Về lệ phí: Chị Bùi Thị Th phải nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự; các điều 149, 367, 369, 370, 371, 372, 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
1. Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Bùi Thị Th về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”.
Tuyên bố: Anh Nguyễn Văn T1 - sinh năm 1990; nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã LT, huyê ̣n TL, tỉnh Hà Nam ; nơi cư trú cuối cùng: Số nhà 5..., đường BS, phường..., thành phố VT, tỉnh Vũng Tàu - mất tích.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Bùi Thị Th phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Đối trừ với 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng lệ phí mà chị Th đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Liêm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 04496 ngày 25/6/2019.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: “Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành quyết định việc dân sự, người phải thi hành quyết định việc dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND huyện Thanh Liêm; - Chi cục THADS huyện Thanh Liêm; - UBND xã Liêm Thuâ ̣n; - Người yêu cầu giải quyết việc dân sự; - Cổng thông tin điện tử của Tòa án; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Lại Xuân Cảnh |