- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Tuyên bố một người mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Đình T về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” đối với bà Huỳnh Thị Mỹ T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ-TP ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 05/2019/QĐST-DS | Thanh Khê, ngày 20 tháng 5 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ-TP ĐÀ NẴNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Hữu Khánh
Thư ký phiên họp: Bà Đặng Thị Minh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên họp: Ông Lê Thanh Tráng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 253/2018/TLST-DS ngày 05 tháng 12 năm 2018, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Đình T, sinh năm 1969; Địa chỉ: Tổ 39 phường An Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Huỳnh Mỹ N, sinh năm: 1992; Địa chỉ: Tổ 39 phường An Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt)
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
- Theo nội dung đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và trình bày tại phiên họp của người yêu cầu là ông Nguyễn Đình T thể hiện:
Ông Nguyễn Đình T và bà Huỳnh Thị Mỹ T xây dựng gia đình vào năm 1992, tuy nhiên đến năm 2002 mới đăng ký kết hôn tại UBND phường An Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Sau khi xây dựng gia đình vợ chồng về chung sống tại tổ 18 phường An Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình chung sống vợ chồng có 02 người con chung là Nguyễn Huỳnh Mỹ N, sinh ngày 02/8/1992 và Nguyễn Huỳnh Bảo C, sinh ngày 18/5/2003.
Trong quá trình chung sống thì vợ chồng chúng tôi cũng có phát sinh nhiều mâu thuẫn. Do vậy, từ tháng 6 năm 2016 đến nay vợ tôi là bà Huỳnh Thị Mỹ T đã bỏ nhà đi khỏi địa phương, từ đó đến nay không có liên lạc với gia đình chồng con. Sau khi bà Huỳnh Thị Mỹ T bỏ đi thì tôi đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không thể biết và liên lạc được với bà T. Khi bà Huỳnh Thị Mỹ T bỏ nhà đi thì tôi đã đến tổ dân phố, Công an phường An Khê trình báo.
Nay để ổn định cuộc sống cũng như để làm căn cứ giải quyết các quan hệ pháp lý sau này, tôi yêu cầu Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tuyên bố vợ tôi là bà Huỳnh Thị Mỹ T, sinh năm 1973; Nơi cư trú cuối cùng: tổ 39 phường An Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng mất tích.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:
Tôi thống nhất với phần trình bày của ông Nguyễn Đình T, mẹ tôi là bà Huỳnh Thị Mỹ T đã bỏ nhà đi từ năm 2016 đến nay không có tin tức gì, nay cha tôi là yêu cầu Tòa án tuyên bố mẹ tôi là bà Huỳnh Thị Mỹ T mất tích thì tôi đề nghị tòa án căn cứ vào pháp luật để giải quyết.
- Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp:
Thẩm phán, Thư ký, người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp. Đề nghị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê căn cứ Điều 68 của Bộ luật dân sự chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Đình T về việc tuyên bố bà Huỳnh Thị Mỹ T, sinh năm 1973; nơi cư trú cuối cùng: Tổ 18 phường An Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng mất tích.
NHẬN DỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng nhận định:
[1] Xét đơn yêu cầu của ông Nguyễn Đình T thì đây là việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với bà Huỳnh Thị Mỹ T, sinh năm 1973 có nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích tại tổ 18 phường An Khê, quận Thanh Khê thành phố Đà nẵng, nên theo quy định tại khoản 3 Điều 27, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự việc yêu cầu thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
[2] Ông Nguyễn Đình T và bà Huỳnh Thị Mỹ T xây dựng gia đình vào năm 1992, tuy nhiên đến năm 2002 mới đăng ký kết hôn tại UBND phường An Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Sau khi xây dựng gia đình vợ chồng về chung sống tại tổ 18 phường An Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Do mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng nên từ tháng 6 năm 2016 bà Huỳnh Thị Mỹ T đã bỏ nhà đi cắt đứt mọi liên lạc với gia đình, điều này được thể hiện tại hai đơn xin xác nhận ngày 18/9/2016 và ngày 11/10/2018 của Công an phường An Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng cũng như đơn trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Sau khi bà Huỳnh Thị Mỹ T bỏ nhà ra đi mặc dù ông Nguyễn Đình T đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng vẫn không có kết quả.
[3] Trên cơ sở đơn yêu cầu về việc tuyên bố một người mất tích của ông Nguyễn Đình T, ngày 20 tháng 12 năm 2018, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đã ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích và đã được đăng tin trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng; đăng trên báo Nhân dân 03 số liên tiếp vào các ngày: 01, 02, 03 tháng 01 năm 2018; đăng nhắn tin trên Đài tiếng nói Việt Nam khu vực miền Trung vào lúc 17h 45 các ngày: 04, 05, 06 tháng 01 năm 2018. Đến nay đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên nhưng vẫn không có tin tức gì của bà Huỳnh Thị Mỹ T.
[4] Từ những nhận định tại [2], [3], cho thấy bà Huỳnh Thị Mỹ T đã biệt tích 02 năm liền mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm nhưng đến nay vẫn không có tin tức xác thực về việc bà Huỳnh Thị Mỹ T còn sống hay đã chết. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự, chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn Đình T về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” đối với bà Huỳnh Thị Mỹ T như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên họp là có căn cứ.
[5] Lệ phí giải quyết việc dân sự ông Nguyễn Đình T phải chịu theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 27, 35, 39, 48, 370, 371, 372, 389 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Đình T về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” đối với bà Huỳnh Thị Mỹ T.
Tuyên bố: Bà Huỳnh Thị Mỹ T, sinh năm 1973. Nơi cư trú cuối cùng: Tổ 18 phường An Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng mất tích.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Đình T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0004333 ngày 05/12/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Ông Nguyễn Đình T đã nộp đủ lệ phí.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - VKSND quận Thanh Khê; - Chi cục THADSQ.Thanh Khê; - Người yêu cầu; - UBND phường An Khê; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Nguyễn Hữu Khánh |