vanban.org

Quyết định 05/2019/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau Tuyên án 27/03/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Phạm Văn A.

Tuyên bố: Bà Trần Thị N, sinh năm 1953 có nơi cư trú cuối cùng ở ấp T H B, xã T T, huyện Đ D, tỉnh Cà Mau mất tích. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Phạm Văn A phải chịu 300.000 đồng,ông A đã dự nộp 300.000 đồng theo lai thu số 0010412 ngày 17 tháng 9 năm 2018. Sau khi đối trừ ông A đã nộp… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Ông Phạm Văn An yêu cầu tuyên bố bà Trần Thị N mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Phạm Văn A.
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 05/2019/QĐST-DSĐầm Dơi, ngày 27 tháng 3 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Hồ Ngọc Yến.

Thư ký phiên họp: Ông Bùi Thanh Khuyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi tham gia phiên họp: Ông Dương Tấn Viễn - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau mở hiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 287/2018/TLST-DS ngày 17 tháng 9 năm 2018 về việc yêu cầu tuyên bố mất tích theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 05/2019/QĐST-DS ngày 11 tháng 3 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Phạm Văn A, sinh năm 1954; nơi cư trú: Ấp T L, xã T Đ, huyện Đ D, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị N, sinh năm 1953; nơi cư trú cuối cùng: Ấp T H B, xã T T, huyện Đ D, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Nội dung đơn yêu cầu và lời trình bày tại phiên họp của ông Phạm Văn A thể hiện: Ông Phạm Văn A và bà Trần Thị N có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vào năm 2001 nhưng sau đó phát sinh tranh chấp. Bà N đã bỏ địa phương đi từ năm 2004 cho đến nay, ông A đã nhiều lần liên hệ gia đình bà N để tìm kiếm bà N. Đồng thời, ông đã yêu cầu đến Tòa án thông báo tìm kiếm vắng mặt tại nơi cư trú và tuyên bố mất tích, các quyết định này đã được thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng vẫn không xác định được tin tức bà N hiện nay đang ở đâu. Theo đơn xin xác nhận đứng của ông Phạm Văn A ngày 21/5/2018 thể hiện bà N bỏ nhà đi từ năm 2004 cho đến nay không rõ ở đâu. Ông A yêu cầu tuyên bố bà N mất tích.

Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi phát biểu ý kiến đề nghị: Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Phạm Văn A, tuyên bố bà Trần Thị N mất tích. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông A phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Đ D nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Ông Phạm Văn A có đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với bà Trần Thị N, sinh năm 1953 có nơi cư trú cuối cùng ấp T H B, xã T T, huyện Đ D, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Dầm Dơi thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại các Điều 27, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu tuyên bố mất tích: Sau khi bà N bỏ đi vào năm 2004, ông A đã nhiều lần liên hệ gia đình bên bà N để tìm kiếm bà N, ông A đã yêu cầu Tòa án thông báo tiềm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà N, được Tòa án chấp nhận và ông A đã thực hiện công bố theo đúng quy định tại Điều 384 và Điều 385 của Bộ luật tố tụng dân sự. Theo xác nhận của Công an xã Tân Thuận xác nhận bà N đã bỏ địa phương đi từ năm 2004 cho đến nay không có trở về địa phương và cũng không có tin tức gì, hiện nay không rõ bà N ở đâu.

Bà N bỏ đi biệt tích đến nay đã hơn 14 năm nên ông A đã yêu cầu Tòa án tuyên bố bà N mất tích. Ngày 25/6/2018, Tòa án đã ban hành quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 02/QĐ-TA và thông báo này đã được công bố theo đúng quy định tại Điều 384 và Điều 385 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nhưng đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên ngày 07/11/2018 cho đến ngày mở phiên họp mà không có tin tức xác thực về việc bà Nguyệt còn sống hoặc đã chết.

Do vậy, việc đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát và yêu cầu của ông A tuyên bố bà N mất tích là có căn cứ và đúng với quy định tại Điều 68 Bộ luật dân sự và Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự nên được chấp nhận.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Phạm Văn A phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 27, 35, 39, 370, 371, 372, 387, 389 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thương vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

- Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Phạm Văn A.

Tuyên bố: Bà Trần Thị N, sinh năm 1953 có nơi cư trú cuối cùng ở ấp T H B, xã T T, huyện Đ D, tỉnh Cà Mau mất tích.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Phạm Văn A phải chịu 300.000 đồng,ông A đã dự nộp 300.000 đồng theo lai thu số 0010412 ngày 17 tháng 9 năm 2018. Sau khi đối trừ ông A đã nộp đủ tiền lệ phí giải quyết việc dân sự.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Ông Phạm Văn A có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định, bà Trần Thị N có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày quyết định này được niêm yết.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ D có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

- Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA

Cỡ chữ