vanban.org

Quyết định 05/2019/QĐST-DS — Y/c công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án

TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình Tuyên án 04/03/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

số 08/2019/TLST-DS ngày 15 tháng 02 năm 2019, cụ thể như sau:

1. Công ty Cổ phẩn dịch vụ tổng hợp ST bồi thường toàn bộ thiệt hại cho ông Trần Công B và bà Bùi Thị T do việc xây dựng công trình Trung tâm thương mại dịch vụ tổng hợp ST tại địa chỉ Số 603, phố Y, Tổ 34, phường L, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình dẫn đến lún nứt công trình xây dựng tại địa chỉ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án — án dân sự — "Trần Công B, Bùi Thị T - Công ty ST"
  • Tòa quyết gì? số 08/2019/TLST-DS ngày 15 tháng 02 năm 2019, cụ thể như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 05/2019/QĐST-DSTp. Thái Bình, ngày 04 tháng 03 năm 2019.

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH NGOÀI TÒA ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Vũ Việt Hưng.

Thư ký phiên họp: Bà Hà Thị Quỳnh Anh – Thư ký Tòa án nhân dân

thành phố Thái Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái

Bình tham gia phiên họp: Bà Trương Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Tòa án án nhân dân thành phố Thái

Bình, tỉnh Thái Bình mở phiên họp xét công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án thụ lý số 08/2019/TLST-DS ngày 15 tháng 02 năm 2019 theo Quyết định mở phiên họp số 06/QĐST-DS ngày 22 tháng 02 năm 2019.

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

1. Ông Trần Công B, sinh năm 1952 và Bà Bùi Thị T, sinh năm 1950; đều

cư trú tại: Số nhà 356, đường N, Tổ 33, phường L, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

Người đại diện theo ủy quyền:

- Ông Trần Công B, sinh năm 1952; nơi cư trú: Số nhà 356, đường N, Tổ

33, phường L, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

- Ông Vũ Đức S, sinh năm 1945; nơi cư trú: Số nhà 360, đường N, Tổ 33,

phường L, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

2. Công ty Cổ phần dịch vụ tổng hợp ST;

Địa chỉ trụ sở: Số nhà 603, đường Y, Tổ 34, phường L, thành phố Thái

Bình, tỉnh Thái Bình.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Minh Đ, chức vụ: Giám đốc.

(Ông B, ông S có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; ông Đ có mặt)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Năm 2017, Công ty Cổ phần dịch vụ tổng hợp ST (sau đây gọi tắt là: Công

ty ST) xây dựng công trình Trung tâm thương mại dịch vụ tổng hợp ST liền kề hộ gia đình ông Trần Công B và bà Bùi Thị T tại Số nhà 356, đường N, Tổ 33, phường L, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Quá trình thi công đã làm lún, nứt tường, mái nhà, gây thấm dột cho hộ gia đình ông B, bà T. Sau khi đã xác nhận thiệt hại, thống nhất thỏa thuận về việc bồi thường thiệt hại, ông B, bà T và Công ty ST đã làm đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án về việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do công trình xây dựng gây ra như sau:

Công ty Cổ phẩn dịch vụ tổng hợp ST bồi thường toàn bộ thiệt hại cho ông

Trần Công B và bà Bùi Thị T số tiền là 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) do việc xây dựng công trình Trung tâm thương mại dịch vụ tổng hợp ST tại địa chỉ Số 603, phố Y, Tổ 34, phường L, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình dẫn đến lún nứt công trình xây dựng tại địa chỉ Số nhà 356, đường N, Tổ 33, phường L, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình của hộ gia đình ông Trần Công B và bà Bùi Thị T.

Ông Trần Công B và bà Bùi Thị T đã nhận đủ số tiền bồi thường

15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) trên vào ngày 24 tháng 01 năm 2019 và không có ý kiến, yêu cầu gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ yêu cầu công nhận

kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình nhận định:

Về áp dụng pháp luật tố tụng: Cổ phẩn dịch vụ tổng hợp ST và ông

Trần Công B, bà Bùi Thị T nộp đơn yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án về việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do công trình xây dựng gây ra. Căn cứ khoản 7 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm s khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, đây là yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; đơn yêu cầu đảm bảo đúng quy định tại Điều 362, Điều 418 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về áp dụng pháp luật nội dung:

2.1. Công ty Cổ phẩn dịch vụ tổng hợp ST và ông Trần Công B, bà Bùi

Thị T đã bàn bạc, thống nhất được với nhau toàn bộ nội dung giải quyết các vấn đề có tranh chấp thể hiện tại Biên bản hòa giải thành đề ngày 31 tháng 01 năm 2019 tại Trung tâm hòa giải, đối thoại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, cụ thể:

Công ty Cổ phẩn dịch vụ tổng hợp ST bồi thường toàn bộ thiệt hại cho ông

Trần Công B và bà Bùi Thị T số tiền là 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) do việc xây dựng công trình Trung tâm thương mại dịch vụ tổng hợp ST tại địa chỉ Số 603, phố Y, Tổ 34, phường L, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình dẫn đến lún nứt công trình xây dựng tại địa chỉ Số nhà 356, đường N, Tổ 33, phường L, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình của hộ gia đình ông Trần Công B và bà Bùi Thị T.

Ông Trần Công B và bà Bùi Thị T đã nhận đủ số tiền bồi thường

15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) trên vào ngày 24 tháng 01 năm 2019 và không có ý kiến, yêu cầu gì khác.

Xét thấy: Các bên tham gia thỏa thuận hòa giải có đầy đủ năng lực hành vi

dân sự, cả hai bên có đơn yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án, nội dung thỏa thuận của các bên là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, do đó Tòa án cần chấp nhận.

2.2. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Người yêu cầu Tòa án giải quyết việc

dân sự phải chịu lệ phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

2.3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Quyết định công nhận kết quả hòa

giải thành ngoài Tòa án có hiệu lực thi hành ngay, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Căn cứ khoản 7 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm s khoản 2 Điều 39,

các Điều 416, 417, 419 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 605 Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy bản Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án thụ lý

số 08/2019/TLST-DS ngày 15 tháng 02 năm 2019, cụ thể như sau:

1.1. Công ty Cổ phẩn dịch vụ tổng hợp ST bồi thường toàn bộ thiệt hại cho

ông Trần Công B và bà Bùi Thị T do việc xây dựng công trình Trung tâm thương mại dịch vụ tổng hợp ST tại địa chỉ Số 603, phố Y, Tổ 34, phường L, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình dẫn đến lún nứt công trình xây dựng tại địa chỉ Số nhà 356, đường N, Tổ 33, phường L, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình của hộ gia đình ông Trần Công B và bà Bùi Thị T số tiền là 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng).

1.2. Ông Trần Công B và bà Bùi Thị T đã nhận đủ số tiền bồi thường

15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) trên vào ngày 24 tháng 01 năm 2019 và không có ý kiến, yêu cầu gì khác.

Điều 2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Công ty Cổ phẩn dịch vụ

tổng hợp ST và ông Trần Công B và bà Bùi Thị T mỗi người tự nguyện chịu 150.000 đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự. Chuyển số tiền 150.000 đồng Công ty ST, ông B và bà T đã nộp tại biên lai thu tạm ứng lệ phí số 0007445 ngày 14 tháng 02 năm 2019 và số 0007450 ngày 15 tháng 02 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình sang thành tiền lệ phí.

Điều 3. Quyết định này có hiệu lực thi hành ngay, không bị kháng cáo,

kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Điều 4. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi

hành án dân sự; người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ