- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Tuyên bố mất tích"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016:
- Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 369 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G THÀNH PHỐ HÀ NỘI ___________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 05/2019/QĐDS - ST Ngày: 08/07/2019 V/v: “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” | G, ngày 08 tháng 07 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
- Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Quang Long – Thẩm phán.
- Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện G, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G tham gia phiên toà: Bà Trần Thị A Tuyết - Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 7 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện G, thành phố Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý 14/2019/TLST - VDS ngày 11/01/2019 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người đã chết” theo Quyết mở phiên giải quyết việc dân sự số 66/2019/QĐMPH-ST ngày 27 tháng 06 năm 2019.
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1949; Trú tại: Thôn YT, xã Y, G, Hà Nội. Có mặt.
2. Người bị yêu cầu: Chị Nguyễn Thị A, sinh năm 1983. Vắng mặt.
Địa chỉ cư trú cuối cùng: Thôn YT, xã Y, G, Hà Nội.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Đình N, sinh năm 1989; Trú tại: Thôn YT, xã Y, G, Hà Nội. Có mặt.
2. Chị Nguyễn Thị A, sinh năm 1976; Trú tại: Thôn YT, xã Y, G, Hà Nội. Có mặt.
4. Những vấn để cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Bà Nguyễn Thị A yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị A là đã chết.
NHẬN ĐỊNH:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện G, thành phố Hà Nội nhận định:
Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị A là người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết có nơi cư trú cuối cùng tại thôn YT, xã YT, huyện G, Tp. Hà Nội nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện G, thành phố Hà Nội theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà Nguyễn Thị A là mẹ đẻ của chị Nguyễn Thị A nên bà Nguyễn Thị A là người có quyền yêu cầu tuyên bố chị Nguyễn Thị A là đã chết theo quy định tại Điều 391 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu của người yêu cầu: Bà Nguyễn Thị A và ông Nguyễn Văn Ngọ, sinh năm 1956, chết năm 2017 xây dựng gia đình với nhau năm 1975 và có với nhau 04 người con gồm: Chị Nguyễn Thị A, sinh năm 1976; chị Nguyễn Thị Nguyệt, sinh năm 1981, chết năm 1994; Chị Nguyễn Thị A, sinh năm 1983; anh Nguyễn Đình N, sinh năm 1989. Chị Nguyễn Thị A khi sinh ra đã bị ảnh hưởng trí não. Năm 2001, chị Anh đi cắt cỏ thuê nhưng tối không thấy về. Nhiều năm nay, gia đình bà A đã đi tìm chị Anh nhưng không có tin tức gì. Như vậy chị Nguyễn Thị A đã bỏ đi biệt tích khỏi nơi cư trú cuối cùng là thôn YT, xã YT, G, Hà Nội từ năm 2001. Sau khi thụ lý vụ việc, Tòa án đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm chị Nguyễn Thị A theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 392 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá thời hạn thông báo của Tòa án nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc chị Anh còn sống hay đã chết. Chị Nguyễn Thị A đã biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống. Vì vậy, cần chấp nhận đơn của bà Nguyễn Thị A về việc “Yêu cầu tuyên bố chị Nguyễn Thị A đã chết” là có căn cứ, phù hợp với quy định tại điểm d khoản 1 Điều 71 của Bộ luật dân sự.
Về thời điểm chết của chị Nguyễn Thị A: Thời điểm chị Nguyễn Thị A bỏ đi biệt tích là năm 2001. Do đó, ngày chết của chị Nguyễn Thị A là ngày 01/01/2007.
Về hậu quả pháp lý của việc chị Nguyễn Thị A bị tuyên bố là đã chết: Khi quyết định của Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị A đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình, các quan hệ nhân thân khác và quan hệ về tài sản của chị Anh được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của chị Nguyễn Thị A được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
Về lệ phí Tòa án: Bà Nguyễn Thị A phải nộp lệ phí giải quyết việc dân sự nên theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Ý kiến của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Tòa án nên được chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 27; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 391, Điều 393 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm d Khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự 2015.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016:
Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị A về việc tuyên bố chị Nguyễn Thị A là đã chết.
1. Tuyên bố: Chị Nguyễn Thị A, sinh năm 1983; Nơi cư trú cuối cùng: Thôn YT, xã Y, G, Hà Nội chết kể từ ngày 01/01/2007.
2. Quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của chị Nguyễn Thị A được giải quyết như đối với người đã chết. Tài sản của chị Nguyễn Thị A (nếu có) được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
3. Lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự: 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) bà Nguyễn Thị A phải chịu nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ mà bà A đã nộp theo biên lai thu số 4123 ngày 10/01/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện G, Tp Hà Nội.
4. Các đương sự có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định. N¬i nhËn:
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G
- C¸c ® ¬ng sù;
| - VKS.ND.H Gia L©m; - Chi Cục THA huyện G - UBND xã YT; - L u hå s¬ vô ¸n; | Thẩm phán Vũ Quang Long |