- Tranh chấp gì? "Đặng Thành T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đặng Thành T.
- Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 10 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐẮK LẮK Số: 05/2019/QĐ-TA | Krông Pắc, ngày 02 tháng 5 năm 2019. |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Phạm Hồng Trường.
2. Thư ký phiên họp: Bà Nông Thị Lường Chức vụ: Cán bộ Tòa án.
Ngày 02/5/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 05/2019/QĐ-TA, ngày 25 tháng 4 năm 2019 đối với:
Họ và tên: Đặng Thành T. Giới tính: Nam.
Sinh ngày 22 tháng 01 năm 1994.
Dân tộc: Kinh
Tôn giáo: Không
Trình độ học vấn: 11/12.
Nguyên quán: Huyện A, tỉnh B.
Hộ khẩu thường trú: Thôn 2B, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Chỗ ở hiện nay: Thôn 2B, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Không
Con ông Đặng Thanh L (Đã chết) và con bà Lê Thị Thu T.
Đặng Thành T vắng mặt tại phiên họp không có lý do.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện Krông Pắc: Ông Huỳnh Văn Cúc.
Chức vụ: Phó trưởng phòng Lao động thương binh và xã hội huyện Krông Pắc.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc: Bà Phạm Thị Thủy.
Chức vụ: Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY
Đặng Thành T bắt đầu sử dụng ma túy từ đầu năm 2018, hình thức sử dụng ma túy là hút, và thuộc đối tượng quản lý tại địa phương. Vào khoảng 21 giờ, ngày 16/3/2019, tại Thôn 2B, xã H, huyện K. Đặng Thành T vừa có hành vi sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an huyện Krông Pắc phát hiện triệu tập làm việc và đưa Đặng Thành T đến Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk tại thôn 4, xã Tân Tiến, huyện Krông Pắc tiến hành xét nghiệm nước tiểu để xác định tình trạng nghiện. Kết quả xét nghiệm là Dương tính (+) với ma túy (Ma túy đá: MET). Sau đó, Công an huyện K tiến hành lập biên bản về việc sử dụng trái phép chất ma túy, tại bản tự khai ngày 17/3/2019 và các biên bản ghi lời khai ngày 17/3/2019 và ngày 27/3/2019 Đặng Thành T đã thừa nhận về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Tại phiên họp, đại diện phòng Lao động thương binh và xã hội huyện K đề nghị: Đặng Thành T có nơi cư trú ổn định tại thôn 2B, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Là đối tượng để áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Xét nhân thân của Đặng Thành T: Ngày 23/8/2018 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H ra Quyết định số 19/QĐ-UBND, về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với thời hạn là 03 tháng kể từ ngày 23/8/2018 đến ngày 23/11/2018, sau khi chấp hành xong quyết định giáo dục tại xã thì lại tiếp tục thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, sau khi bị lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, T đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính. Do đó, đề nghị Tòa án căn cứ vào Điều 95 Luật xử lý vi phạm hành chính để áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đặng Thành T với thời hạn là 20 (Hai mươi) tháng.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K khẳng định: Việc phòng lao động thương binh và xã hội huyện K đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đặng Thành T là có căn cứ pháp lý nên cần chấp nhận. Quá trình chuẩn bị và tại phiên họp, Tòa án đã thực hiện đầy đủ và đúng các quy định pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
Đặng Thành T đã được Tòa án tống đạt Quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định biện pháp xử lý hành chính hợp lệ, tuy nhiên tại phiên họp vắng mặt không có lý do, vì vậy đề nghị Tòa án căn cứ vào khoản 2 Điều 19 pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13, ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội để tiến hành phiên họp vắng mặt đối với Đặng Thành T.
Căn cứ vào tài liệu chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ, căn cứ kết quả tại phiên họp, ý kiến của những người tham gia phiên họp.
XÉT THẤY
Đặng Thành T sử dụng ma túy từ đầu năm 2018, vào khoảng 21 giờ, ngày 16/3/2019, T vừa có hành vi sử dụng ma túy đá bằng hình thức hút thì bị lực lượng Công an huyện K phát hiện triệu tập làm việc và đưa Đặng Thành T đến Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk tại thôn 4, xã Tân Tiến, huyện Krông Pắc tiến hành xét nghiệm nước tiểu để xác định tình trạng nghiện, kết quả xét nghiệm là Dương tính (+) với ma túy (Ma túy đá: MET). Sau đó, Công an huyện K tiến hành lập biên bản về việc sử dụng trái phép chất ma túy, tại bản tự khai ngày 17/3/2019 và các biên bản ghi lời khai ngày 17/3/2019 và ngày 27/3/2019 Đặng Thành T đã thừa nhận về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Quá trình xác minh xác định: Đặng Thành T có nơi ở ổn định, Công an xã H phối hợp với Công an huyện K giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đặng Thành T. Đồng thời, thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc cho người bị đề nghị. Chuyển hồ sơ đề nghị cho phòng Tư pháp huyện K kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ, phòng Tư pháp đã có văn bản xác nhận pháp lý của hồ sơ đề nghị. Do đó, phòng Lao động thương binh và xã hội có văn bản đề nghị Toà án nhân dân huyện K áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Như vậy, việc lập hồ sơ đề nghị đối với Đặng Thành T đảm bảo đúng theo quy định tại Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính, phù hợp với các Điều 8,9,10,11,12,13 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP, ngày 30/12/2013 của Chính phủ và phù hợp với Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP, ngày 09/9/2016 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP, ngày 30/12/2013 của Chính phủ.
Căn cứ vào các tài liệu đã được thu thập và lời trình bày của người bị đề nghị có trong hồ sơ, đủ căn cứ xác định: Đặng Thành T có nơi cư trú ổn định tại thôn 2B, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Vì vậy, theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 221/2013/NĐ-CP, ngày 30/12/2013 của Chính phủ và Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP, ngày 09/9/2016 của Chính phủ đã xác định Đặng Thành T có nơi cư trú ổn định. Do đó, T thuộc đối tượng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Xét ý thức: Đặng Thành T là người có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Mặc dù biết tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng và đã bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với thời hạn là 03 tháng kể từ ngày 23/8/2018 đến ngày 23/11/2018, theo Quyết định số 19/QĐ-UBND, ngày 23/8/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H. Sau khi chấp hành xong quyết định giáo dục tại xã thì đến ngày 16/3/2019, T lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy.
Xét tính chất mức độ hành vi của Đặng Thành T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về ma túy, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội, góp phần làm gia tăng các tệ nạn xã hội. Do đó cần áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đặng Thành T theo quy định tại Điều 95, khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định:
1. “Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định”.
Xét nhân thân: Sau khi thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy Đặng Thành T đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Xét đề nghị của đại diện phòng Lao động thương binh và xã hội huyện K đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đặng Thành T là có căn cứ và phù hợp nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96 và Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 3, Điều 8,9,10,11,12 và Điều 13 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP, ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Căn cứ Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP, ngày 09/9/2016 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP, ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Căn cứ vào các Điều 19, 20, 22, 23 và Điều 31 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13, ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đặng Thành T.
2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk là 20 (Hai mươi) tháng.
3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định. Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện K có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân huyện K có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Công an huyện K, Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện K và Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk có trách nhiệm thi hành quyết định này ngay sau khi quyết định có hiệu lực pháp luật.
| Nơi nhận - VKSND huyện K. - Công an huyện K. - Phòng LĐTB&XH huyện K. - Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk. - UBND xã H, huyện K. - Người bị đề nghị. - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Phạm Hồng Trường |