vanban.org

Quyết định 05/2018/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND TX. Kim Bảng, tỉnh Hà Nam Tuyên án 16/11/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Nguyễn Thị Th về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích.

Tuyên bố anh Nguyễn Xuân B, sinh năm 1977; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Thôn V, xã N, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam mất tích. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị Th phải chịu 300.000đồng lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm. Đối trừ số tiền 300.000đồng chị Th đã nộp theo biên lai t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Nguyễn Thị Th yêu cầu tuyên bố anh Nguyễn Xuân B mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Nguyễn Thị Th về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIM BẢNG
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 05/2018/QĐST-VDSKim Bảng, ngày 16 tháng 11 năm 2018.

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM

Thành phần giải quyết việc dân sự:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Trần Quang Minh.

Thư ký phiên họp: Ông Trần Quang Tất - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tham gia phiên họp: Ông Phạm Ngọc Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 04/2018/TLST-VDS ngày 07 tháng 6 năm 2018, về yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 05/2018/QĐST-VDS ngày 07 tháng 11 năm 2018.

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn Y, xã N, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Xuân B, sinh năm 1977; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Thôn V, xã N, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. (vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu đề ngày 15 tháng 5 năm 2018 và các lời khai tiếp theo tại Tòa án, người yêu cầu giải quyết việc dân sự là chị Nguyễn Thị Th trình bày: Chị và anh Nguyễn Xuân B lấy nhau tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện KB, tỉnh Hà Nam ngày 13 tháng 11 năm 2003. Sau khi cưới vợ chồng cùng nhau chung sống tại nhà mẹ nuôi của anh B ở thôn V, xã N, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam cho đến khoảng cuối năm 2006 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do kinh tế gia đình khó khăn, bất đồng quan điểm sống, dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra to tiếng, đánh cãi chửi nhau, song chị vẫn cố gắng chịu đựng để nuôi dạy con chung, tuy nhiên mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày một căng thẳng hơn, nên ngày 10/5/2008, anh B đã lấy quần áo tự ý bỏ mẹ con chị đi đâu không rõ. Từ khi anh B bỏ đi khỏi nơi cư trú cuối cùng là thôn V, xã N, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam cho đến nay đã hơn 10 năm, chị và gia đình đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không biết anh B đang làm gì, ở đâu và cũng kể từ đó anh B không trở về chung sống cùng chị và các con lần nào, anh B cũng không liên lạc gì với chị và gia đình. Vì vậy chị làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chồng chị là anh Nguyễn Xuân B mất tích theo quy định của pháp luật; ngoài ra chị không đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu nào khác.

Tại phiên họp, chị Th giữ nguyên yêu cầu tuyên bố chồng chị là anh Nguyễn Xuân B mất tích, không thay đổi, bổ sung gì. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự và đề nghị Chủ tọa phiên họp căn cứ khoản 3 Điều 27, khoản 2 Điều 35, Điều 149 và 389 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Th về việc tuyên bố một người mất tích đối với anh Nguyễn Xuân B.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam nhận định:

Chị Nguyễn Thị Th và anh Nguyễn Xuân B lấy nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện KB, tỉnh Hà Nam ngày 13 tháng 11 năm 2003. Sau khi cưới anh chị cùng nhau chung sống tại nhà mẹ nuôi của anh B ở thôn V, xã N, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Tuy nhiên vợ chồng chỉ chung sống hạnh phúc được đến cuối năm 2006 thì phát sinh mâu thuẫn, dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên xảy ra to tiếng, đánh cãi chửi nhau, do đó đến ngày 10/5/2008 anh B đã bỏ chị Th đi khỏi nơi cư trú cuối cùng là thôn V, xã N, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam cho đến nay đã hơn 10 năm nhưng anh B không trở về chung sống với chị Th và các con thêm lần nào, chị Th và gia đình cho đến nay cũng không có tin tức gì và không biết hiện nay anh B đang làm gì, ở đâu.

Trên cơ sở yêu cầu của chị Nguyễn Thị Th, ngày 25 tháng 6 năm 2018, Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 04/2018/QĐ-TBTK đối với anh Nguyễn Xuân B và đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông tin tìm kiếm anh Nguyễn Xuân B trên phương tiện thông tin đại chúng như báo Công lý các số liên tiếp 54, 55 và 56 ra các ngày 06, 11, 13/7/2018 và trên Đài tiếng nói Việt Nam phát sóng trong các ngày 08, 09 và 10/7/2018. Đến nay đã hết thời hạn 04 tháng, kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên, nhưng vẫn không có tin tức gì xác thực về việc anh B còn sống hay đã chết, Ủy ban nhân dân xã N, huyện KB cũng xác nhận anh Nguyễn Xuân B bỏ đi biệt tích khỏi địa phương từ khoảng tháng 5/2008 cho đến nay không có tin tức gì, không trở về địa phương lần nào, hiện không biết anh B đang làm gì, ở đâu. Do đó yêu cầu của chị Nguyễn Thị Th đề nghị Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng tuyên bố anh Nguyễn Xuân B mất tích là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 389 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Điều 68 Bộ luật Dân sự, nên cần được xem xét chấp nhận.

Do chị Nguyễn Thị Th chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết việc tuyên bố một người mất tích đối với anh Nguyễn Xuân B, không yêu cầu phải xem xét, giải quyết vấn đề nào khác, vì vậy Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về lệ phí: Chị Th phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định tại các Điều 371 và 372 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, khoản 2 Điều 35, Điều 149 và Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật Dân sự.

- Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Nguyễn Thị Th về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích.

- Tuyên bố anh Nguyễn Xuân B, sinh năm 1977; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Thôn V, xã N, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam mất tích.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị Th phải chịu 300.000đồng lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm. Đối trừ số tiền 300.000đồng chị Th đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001366 ngày 07 tháng 6 năm 2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Chị Nguyễn Thị Th đã nộp đủ tiền lệ phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Chị Nguyễn Thị Th được quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Anh Nguyễn Xuân B được quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định này được niêm yết.

Cỡ chữ