vanban.org

Quyết định 05/2018/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Lương Thị Khuyên - tuyên bố một người mất tích"
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 371 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!
THÀNH!PHỐ!HẢI!DƯƠNG!
TỈNH!HẢI!DƯƠNG!
______________________!
Số:!05/2018/QĐDS-ST!
Ngày!15!-!11!-!2018!
"V/v: Tuyên bố một người mất tích"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM

TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HẢI!DƯƠNG!-!TỈNH!HẢI!DƯƠNG!

Với Thành phần giải quyết việc dân sự:!

Chủ toạ phiên họp: Bà Phạm Thị Khánh Thiện - Thẩm phán

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hà!- Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng tham gia phiên họp: Bà Lê Thị Thu Thanh!- Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở, Toà án nhân dân thành phố Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 05/2018/TLST - DS ngày 12 tháng 6 năm 2018 về "yêu cầu tuyên bố một người mất tích " theo quyết định mở phiên họp số 05/2018/QĐPH- ST, ngày 09 tháng 11 năm 2018.

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Lương Thị K, sinh năm 1984.

Nơi ĐKHKTT: Đội 10, thôn Nguyễn X, phường Thạch K, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

Chỗ ở hiện nay: Đội 11, thôn M T 2, xã Liên M, huyện Thanh H, tỉnh Hải Dương.

2. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:

Chị Lương Thị K yêu cầu Toà án nhân dân thành phố Hải Dương tuyên bố anh Nguyễn Đình K1, sinh năm 1979; ĐKHKTT và nơi cư trú cuối cùng: Đội 10, thôn Nguyễn X, phường Thạch K, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương mất tích.

NHẬN!ĐỊNH!

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp. Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương nhận định.

Chị Lương Thị K và anh Nguyễn Đình K1 quen nhau và có với nhau một con gái là cháu Nguyễn Thị Nhàn, sinh ngày 07/5/2006. Đến năm 2008 chị K và anh K1 mới đăng ký kết hôn vào ngày 18 tháng 6 năm 2008 tại UBND phường Thạch K, thành phố Hải Dương. Sau khi kết hôn vợ chồng sống cùng với bố mẹ chồng tại Đội 10, thôn Nguyễn X, phường Thạch K, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Đến năm 2009 vợ chồng và Kon Tum làm ăn nay đây mai đó. Năm 2010 chị K về mẹ đẻ ở Đội 11, thôn M T 2, xã Liên M, huyện T1 Hà, tỉnh Hải Dương sinh con thứ hai là cháu Nguyễn Đình N, khi con được 03 tháng anh K1 về đón 03 mẹ con về Thạch K sống, vợ chồng sống với nhau được khoảng một tháng anh K1 lại đưa mẹ con chị về Thanh H và anh K1 bỏ đi không nói gì cho chị K và gia đình biết. Chị K và gia đình đã đi tìm kiếm anh K1 ở nhiều nơi và đã thông báo nhắn tìm anh K1 tại Đài phát Thanh thành phố Hải Dương, phát vào hồi 5h30’, 11h30’,17h30’ ngày 01 tháng 6 năm 2018 cho đến nay vẫn không có tin tức, địa chỉ của anh K1.

Ngày 11/6/2018 chị K có đơn yêu cầu Toà án tuyên bố mất tích đối với anh K1. Ngày 12/6/2018 Toà án nhân dân thành phố Hải Dương đã thụ lý và tiến hành thông báo tìm kiếm anh Nguyễn Đình K1 trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật cụ thể: Thông báo đăng tin tìm kiếm trên Báo Pháp luật Việt Nam trong ba số liên tiếp 179, 180, 181 các ngày 28, 29, 30 tháng 6 năm 2018; cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao ngày 03/7/2018 và cổng thông tin điện tử UBND tỉnh Hải Dương ngày 12/7/2018; Phát sóng trên Đài VOV ba lần trong 03 ngày liên tiếp vào hồi 11 giờ 50 phút các ngày ngày 07, 08, 09 tháng 7 năm 2018 nhưng đến nay vẫn không có tin tức. Đến nay, đã hết thời hạn thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuuyên bố mất tích nhưng anh K1 vẫn không trở về và không có tin tức gì của anh K1. Nay có đủ cơ sở để xác định anh Nguyễn Đình K1 đã biệt tích hơn 02 năm liền, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật, nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc anh K1 còn sống hay đã chết.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết việc dân sự: Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương căn cứ vào điều 68 của Bộ luật dân sự; Điều 149; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đề nghị Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố anh Nguyễn Đình K1 mất tích của chị Lương Thị K.

Xét thấy: Anh Nguyễn Đình K1 đi khỏi nơi cư trú từ cuối năm 2010 đầu năm 2011 đến nay đã gần 07 năm không có tin tức, địa chỉ ở đâu. Chị K cùng gia đình đã có nhiều biện pháp tìm kiếm anh K1 nhưng không có kết quả. Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương đã đăng tin tìm kiếm đến nay đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên nhưng đến nay vẫn không có tin tức về địa chỉ của anh K1. Chính quyền địa phương và gia đình anh K1 xác nhận anh K1 đi khỏi địa phương từ cuối năm 2010 đến nay không có tin tức, địa chỉ ở đâu. Từ những chứng cứ nêu trên căn cứ vào điều 68 Bộ luật dân sự 2015 có đủ cơ sở chấp nhận đơn yêu cầu của chị Lương Thị K về việc tuyên bố anh Nguyễn Đình K1 mất tích.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương phù hợp với quy định của pháp luật.

Về lệ phí: Chị Lương Thị K phải nộp lệ phí việc dân sự.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT!ĐỊNH!

Căn cứ Điều 68 Bộ luật dân sự; Điều 149; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 388; Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

1.Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Lương Thị K:

Tuyên bố anh Nguyễn Đình K1 sinh năm 1979; nơi cư trú cuối cùng Đội 10, thôn Nguyễn X, phường Thạch K, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương là chồng của chị Lương Thị K mất tích.

2.Về lệ phí: chị Lương thị K phải chịu 300.000đ lệ phí việc dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng lệ phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương theo biên lai số AA/2017/0002374 ngày 11/6/2018, chị K đã nộp đủ lệ phí việc dân sự.

3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo Quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án án ra Quyết định.

Cỡ chữ