- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Yêu cầu Tòa án tuyên bố mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Lý Văn N về việc tuyên bố chị Phùng Thị C mất tích.
- Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 05/2018/QĐDS-ST Ngày: 16-4-2018 V/v tuyên bố một người mất tích. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Trung Dũng – Thẩm phán
Thư ký phiên họp:Bà Nguyễn Thị Xuyến – Thư ký, Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên họp: Ông Phạm Văn Cường – Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 4 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông mở phiên họp công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 94/2017/TLST-VDS ngày 05 tháng 10 năm 2017 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp số: 01/2018/QĐPH-ST ngày 21 tháng 02 năm 2018
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Lý Văn N (Có mặt), sinh năm 1985.
Trú tại: thôn Đ, xã L, huyện Đ, tỉnh Đ.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Phùng Thị C (Vắng mặt), sinh năm 1991.
Nơi cư trú cuối cùng: thôn Đ, xã L, huyện Đ, tỉnh Đ.
3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: anh Lý Văn N yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chị Phùng Thị C (vợ của anh N), sinh năm 1991;
NHẬN ĐỊNH:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil nhận định:
1. Về tố tụng: Anh Lý Văn N có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil tuyên bố mất tích đối với chị Phùng Thị C, đăng ký hộ khẩu và nơi cư trú cuối cùng: Thôn Đ, xã L, huyện Đ, tỉnh Đ, giữa các đương sự không có sự tranh chấp nên đây là việc dân sự và Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông thụ lý và giải quyết việc dân sự là đúng với thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
2. Về nội dung yêu cầu tuyên bố mất tích:
Anh Lý Văn N và chị Phùng Thị C kết hôn vào ngày 01 tháng 12 năm 2010, trong thời gian chung sống anh chị có hai người con chung là cháu Lý Thị Mai L, sinh năm 2013 và cháu Lý Bảo L, sinh năm 2014, chung sống hạnh phúc được một thời gian, sau đó anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, lối sống, đến ngày 22/7/2015 thì chị C bỏ nhà đi khỏi địa phương không có tin tức gì, có xác nhận của Công an xã L, huyện Đ, tỉnh Đ.
Trong quá trình tìm kiếm, anh Lý Văn N đã thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với chị Phùng Thị C trên Đài tiếng nói Việt Nam phát sóng vào các ngày 18, 19, 20/4/2017 và Báo Công lý 03 số liên tiếp 30, 31, 32 vào các ngày 14, 19, 21/4/2017 nhưng cũng không có tin tức gì. Căn cứ theo thời gian chị C bỏ đi khỏi địa phương thì việc thông báo tìm kiếm của anh N là có căn cứ theo quy định của pháp luật; Hết thời hạn thông báo tìm kiếm theo quy định của pháp luật nhưng vẫn không có tin tức gì của chị C. Vì vậy, anh Lý Văn N làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Phùng Thị C mất tích.
Trong quá trình giải quyết theo yêu cầu của anh N; Tòa án đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm đối với chị Phùng Thị C, cụ thể: Thông báo trên Báo Công lý 03 số liên tiếp 90, 91, 92 vào các ngày 10, 15, 17/11/2017 và đăng tin trên Đài tiếng nói Việt Nam 03 ngày liên tiếp 07, 08, 09/11/2017; đã hết thời hạn thông báo theo quy định của pháp luật nhưng vẫn không có tin tức gì của chị C.
Qua xác minh, lấy lời khai của những người thân thích với chị Phùng Thị C thì đều trình bày chị Phùng Thị C đã bỏ đi khỏi địa phương từ nhiều năm nay và đều không có tín tức, thông tin gì về chị C.
Khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
“Điều 68. Tuyên bố mất tích
1. Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.
Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.”
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung vụ án:
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên họp: Thẩm phán, thư ký và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil đã thụ lý và giải quyết theo đúng trình tự, thẩm quyền theo quy định.
Về nội dung việc dân sự: Căn cứ Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 369, 370, khoản 2 Điều 387, Điều 388, Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của anh Lý Văn N về việc tuyên bố chị Phùng Thị C mất tích.
Từ những phân tích trên, Tòa án thấy việc anh Lý Văn N yêu cầu tuyên bố chị Phùng Thị C mất tích là có căn cứ và phù hợp với các quy định của pháp luật nên cần chấp nhận yêu cầu.
3. Về chi phí đăng, phát thông báo: Anh Lý Văn N phải chịu chi phí đăng, phát thông báo theo quy định tại khoản 2 Điều 385 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
4. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Lý Văn N phải chịu lệ phí việc dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, Điều 39, Điều 367, Điều 369, Điều 370, Điều 372, Điều 385, Điều 387, Điều 388, Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của anh Lý Văn N về việc tuyên bố chị Phùng Thị C mất tích. Tuyên bố chị Phùng Thị C mất tích.
2. Chi phí đăng, phát thông báo tìm kiếm: Anh Lý Văn N phải chịu 2.850.000 đồng tiền chi phí đăng thông báo trên đài tiếng nói Việt Nam và đăng Báo công lý, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 2.850.000 đồng tại Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.
3. Lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Anh Lý Văn N phải nộp 300.000 đồng tiền lệ phí việc dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu phí số 0000730 ngày 04/10/2017 tại Chi Cục thi hành án dân sự huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.
4. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định, đương sự vắng mặt tại phiên họp thì thời hạn này được tính từ ngày nhận được quyết định hoặc ngày được thông báo, niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Đắk Mil; - Chi Cục THADS huyện ĐắkMil; - Các đương sự; - Lưu HS, VT. | THẨM PHÁN (đã ký) Nguyễn Trung Dũng |