- Tranh chấp gì? Y/c công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án — án dân sự — "Quyết định dân sự"
- Tòa quyết gì? Công nhận đơn yêu cầu của Ngân hàng, ông Ngô Xuân P và bà Nguyễn Thị T về việc đề nghị Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án với các nội dung sau:
- Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 05/2018/QĐDS-ST Ngày 30-5-2018 V/v công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
Chủ tọa phiên họp: Bà Trương Minh Huế - Thẩm phán
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Liên - Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thùy Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện A mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 16/2018/TLST-VDS ngày 11 tháng 5 năm 2018 về yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án theo Quyết định mở phiên họp số: 05/2018/QĐST-VDS ngày 21 tháng 5 năm 2018.
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (gọi tắt là Ngân hàng); địa chỉ: Số 35 H, phường L, quận H1, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng: Bà Trần Thị Thanh B, sinh năm 1981; nơi cư trú: Phố L1, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng (theo Văn bản ủy quyền tham gia tố tụng số: 459A/QĐ-BIDV.LT ngày 22 tháng 11 năm 2017); có mặt.
Ông Ngô Xuân P, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1959; đều có nơi cư trú: Thôn C, xã L2, huyện A, thành phố Hải Phòng.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T: Ông Ngô Xuân P, sinh năm 1960; nơi cư trú: Thôn C, xã L2, huyện A, thành phố Hải Phòng (theo Văn bản ủy quyền ngày 08 tháng 5 năm 2018); có mặt.
2. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:
Theo đơn yêu cầu, trong quá trình tố tụng và tại phiên họp, người yêu cầu là người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng, ông Ngô Xuân P với tư cách là người yêu cầu và là người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T trình bày:
Ngân hàng và vợ chồng ông Ngô Xuân P, bà Nguyễn Thị T ký Hợp đồng tín dụng số T.A.1291.14/HĐTD ngày 09 tháng 10 năm 2014. Theo nội dung hợp đồng, Ngân hàng cho ông P, bà T vay số tiền 150.000.000 đồng với mục đích vay để sửa chữa nhà ở; thời hạn cho vay là 60 tháng kể từ ngày bên vay nhận nợ vay đầu tiên; lãi suất cho vay được áp dụng theo hình thức thả nổi với mức lãi suất kỳ đầu tiên là 12%/năm, lãi suất sẽ được điều chỉnh theo quy định của Ngân hàng trong từng thời kỳ; phương thức trả nợ: Trả nợ gốc vào ngày 10 đến 15 hàng tháng, mỗi tháng trả 2.500.000 đồng; kỳ trả nợ đầu tiên phải trả từ ngày 10 đến ngày 15 tháng 11 năm 2014, ngày trả nợ cuối cùng sau 60 tháng kể từ ngày khách hàng nhận khoản nợ vay đầu tiên; trả lãi 01 tháng 01 lần từ ngày 10 đến ngày 15 hàng tháng. Lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
Tài sản bảo đảm là quyền sử dụng 612m2 đất ở và toàn bộ tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 292, tờ bản đồ 15, thôn C, xã L2, huyện A, thành phố Hải Phòng thuộc quyền sở hữu và sử dụng của ông Ngô Xuân P và bà Nguyễn Thị T theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 837971, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00065 do UBND huyện A cấp ngày 08 tháng 8 năm 2014 đứng tên chủ sử dụng đất ông Ngô Xuân P và bà Nguyễn Thị T. Việc thế chấp đã được lập Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 1291.14/HĐTC ngày 09 tháng 10 năm 2014. Các chủ thể tham gia ký kết hợp đồng là Ngân hàng, ông Ngô Xuân P và bà Nguyễn Thị T, hợp đồng đã được công chứng, chứng thực tại Văn phòng Công chứng Đ1, thành phố Hải Phòng và được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
Quá trình thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân cho ông Ngô Xuân P bà Nguyễn Thị T vay số tiền 150.000.000 đồng theo Giấy nhận nợ số T.A.1291.14/GNN. Ông Ngô Xuân P, bà Nguyễn Thị T đã nhận đủ số tiền đã vay nhưng đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, không thanh toán đầy đủ nợ gốc, lãi cho Ngân hàng. Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu ông P, bà T thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng ông P, bà T mới chỉ trả được cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và lãi trong hạn từ ngày 10 tháng 10 năm 2014 đến ngày 18 tháng 10 năm 2017 là 62.400.809 đồng (trong đó nợ gốc đã trả là 38.300.000 đồng, nợ lãi trong hạn đã trả là 24.045.232 đồng, lãi quá hạn đã trả là 55.577 đồng).
Tính đến ngày 09 tháng 5 năm 2018, ông Ngô Xuân P, bà Nguyễn Thị T còn nợ Ngân hàng số tiền 142.560.764 đồng, (Trong đó: Nợ gốc là 111.700.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 26.738.628 đồng, lãi quá hạn là 4.122.136).
Ngày 10 tháng 5 năm 2018, tại Trung tâm hòa giải, đối thoại Tòa án nhân dân huyện A, Ngân hàng và ông Ngô Xuân P, bà Nguyễn Thị T đã thỏa thuận hòa giải thành và cùng có đơn yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án với nội dung sau:
- Về số nợ: Tính đến ngày 09 tháng 5 năm 2018, ông Ngô Xuân P, bà Nguyễn Thị T còn nợ Ngân hàng số tiền là 142.560.764 đồng (Trong đó: Nợ gốc là 111.700.000đ, lãi trong hạn là 26.738.628 đồng, lãi quá hạn là 4.122.136 đồng).
- Về trách nhiệm trả nợ: Ông Ngô Xuân P, bà Nguyễn Thị T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền 142.560.764 đồng (Trong đó: Nợ gốc là 111.700.000đ, lãi trong hạn 26.738.628 đồng, lãi quá hạn là 4.122.136 đồng) và tiếp tục trả lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng kể từ ngày 10 tháng 5 năm 2018 đến khi ông P, bà T trả xong toàn bộ khoản nợ gốc.
- Về thời hạn trả nợ: Ông Ngô Xuân P, bà Nguyễn Thị T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số nợ 142.560.764 đồng (Trong đó: Nợ gốc là 111.700.000 đồng, lãi trong hạn là 26.738.628 đồng, lãi quá hạn là 4.122.136 đồng) và số tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng kể từ ngày 10 tháng 5 năm 2018 đến khi ông P, bà T trả xong nợ gốc trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày 10 tháng 5 năm 2018 đến 10 tháng 6 năm 2018.
- Về xử lý tài sản bảo đảm: Nếu hết ngày 10 tháng 6 năm 2018, ông Ngô Xuân P, bà Nguyễn Thị T không thực hiện đúng việc trả nợ theo thỏa thuận trên thì phát mại tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ trả nợ của ông P, bà T đối với Ngân hàng gồm: Quyền sử dụng 612m2 đất ở và toàn bộ tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 292, tờ bản đồ 15, thôn C xã L2, huyện A, thành phố Hải Phòng thuộc quyền sở hữu và sử dụng của ông Ngô Xuân P và bà Nguyễn Thị T theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 837971, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00065 do UBND huyện A cấp ngày 08 tháng 8 năm 2014 đứng tên chủ sử dụng đất ông Ngô Xuân P và bà Nguyễn Thị T.
Số tiền phát mại tài sản bảo đảm thu được sau khi trả nợ cho Ngân hàng nếu còn thừa sẽ trả lại cho bên thế chấp ông Ngô Xuân P, bà Nguyễn Thị T, nếu thiếu ông Ngô Xuân P, bà Nguyễn Thị T phải tiếp tục hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.
- Về lệ phí: Ông Ngô Xuân P và bà Nguyễn Thị T chịu cả lệ phí giải quyết việc dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A phát biểu ý kiến về việc giải quyết yêu cầu của người yêu cầu: Đề nghị Tòa án căn cứ các điều 417, 419 Bộ luật Tố tụng dân sự: Chấp nhận đơn yêu cầu của Ngân hàng và ông P, bà T về việc đề nghị Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành ngày 10 tháng 5 năm 2018 tại Trung tâm hòa giải, đối thoại Tòa án huyện A. Ông P, bà T phải chịu lệ phí việc dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện A nhận định:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ việc: Đây là việc dân sự: "Yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án", nên theo quy định tại khoản 7, Điều 27; điểm s, khoản 2, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện A.
- Xét yêu cầu của người yêu cầu: Các bên tham gia thỏa thuận hòa giải có đầy đủ thẩm quyền và năng lực hành vi dân sự; có quyền, nghĩa vụ đối với nội dung thỏa thuận hòa giải; nội dung thỏa thuận hòa giải thành của các bên là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba; các bên tham gia thỏa thuận hòa giải đều có đơn yêu cầu Tòa án công nhận kết quả thỏa thuận hòa giải nên thỏa thuận của các bên đương sự được Tòa án chấp nhận.
- Về lệ phí: Các đương sự đã thỏa thuận ông Ngô Xuân P và bà Nguyễn Thị T phải chịu cả lệ phí việc dân sự nên ông P, bà T phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự để sung vào ngân sách Nhà nước.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 7, Điều 27; điểm s, khoản 2, Điều 39; các điều 143, 149, 367; 369; 370, 417; 419 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 6; khoản 1, Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016,
Công nhận đơn yêu cầu của Ngân hàng, ông Ngô Xuân P và bà Nguyễn Thị T về việc đề nghị Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án với các nội dung sau:
- Về số nợ: Tính đến ngày 09 tháng 5 năm 2018 ông Ngô Xuân P, bà Nguyễn Thị T còn nợ Ngân hàng số tiền là 142.560.764 đồng (Trong đó: Nợ gốc là 111.700.000đ, lãi trong hạn là 26.738.628 đồng, lãi quá hạn là 4.122.136 đồng).
- Về trách nhiệm trả nợ: Ông Ngô Xuân P, bà Nguyễn Thị T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền 142.560.764 đồng (Trong đó: Nợ gốc là 111.700.000đ, lãi trong hạn 26.738.628 đồng, lãi quá hạn là 4.122.136 đồng) và tiếp tục trả lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng kể từ ngày 10 tháng 5 năm 2018 đến khi ông P, bà The trả xong toàn bộ khoản nợ gốc.
- Về thời hạn trả nợ: Ông Ngô Xuân P, bà Nguyễn Thị T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số nợ 142.560.764 đồng (Trong đó: Nợ gốc là 111.700.000 đồng, lãi trong hạn là 26.738.628 đồng, lãi quá hạn là 4.122.136 đồng) và số tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng kể từ ngày 10 tháng 5 năm 2018 đến khi ông P, bà T trả xong nợ gốc trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày 10 tháng 5 năm 2018 đến 10 tháng 6 năm 2018.
- Về xử lý tài sản bảo đảm: Nếu hết ngày 10 tháng 6 năm 2018, ông Ngô Xuân P, bà Nguyễn Thị T không thực hiện đúng việc trả nợ theo thỏa thuận trên thì phát mại tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ trả nợ của ông P, bà T đối với Ngân hàng gồm: Quyền sử dụng 612m2 đất ở và toàn bộ tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 292, tờ bản đồ 15, thôn C, xã L2, huyện A, thành phố Hải Phòng thuộc quyền sở hữu và sử dụng của ông Ngô Xuân P và bà Nguyễn Thị T theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 837971, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00065 do UBND huyện A cấp ngày 08 tháng 8 năm 2014 đứng tên chủ sử dụng đất ông Ngô Xuân P và bà Nguyễn Thị T.
Số tiền phát mại tài sản bảo đảm thu được sau khi trả nợ cho Ngân hàng nếu còn thừa sẽ trả lại cho bên thế chấp ông Ngô Xuân P, bà Nguyễn Thị T, nếu thiếu ông Ngô Xuân P, bà Nguyễn Thị T phải tiếp tục hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.
- Về lệ phí: Ông Ngô Xuân P và bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng lệ phí việc dân sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước. Ông P, bà T đã nộp số tiền 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 15104 ngày 11 tháng 5 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A nên ông P bà T không phải nộp nữa.
Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hải Phòng; - VKSND huyện A; - Chi cục THA dân sự huyện A; - Người yêu cầu; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | THẨM PHÁN Trương Minh Huế |