- Tranh chấp gì? "quyet dịnh phuc tham"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận khiếu nại của ông Nguyễn Quốc T. Giữ nguyên quyết định số 24/QĐ-TA ngày 31/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện H về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Quốc T.
- Căn cứ chính? Điều 35 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 05/2018/QĐ-TA | Bạc Liêu, ngày 14 tháng 9 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
Giải quyết khiếu nại đối với quyết định áp dụng
biện pháp xử lý hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
1. Thẩm phán – Chủ trì phiên họp: Ông Lê Thanh Hùng
2. Thư ký ghi biên bản phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hằng
Ngày 14 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu mở phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại đối với Quyết định số 24/QĐ-TA ngày 31/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghện bắt buộc đối với:
Họ và tên: Nguyễn Quốc T; Giới tính: Nam; tên gọi khác: Không
Sinh năm: 1994
Dân tộc: Kinh
Tôn giáo: Không
Trình độ văn hóa: Không biết chữ
Nguyên quán: Ấp T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu
Hộ khẩu thường trú: Ấp T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu
Chỗ ở: Không nơi cư trú ổn định
Nghề nghiệp: Không
Tiền án: Không
Tiền sự: Không
Con ông: Nguyễn Quốc N và bà Lý Thị H
Ông Nguyễn Quốc T vắng mặt, ông Nguyễn Văn H1 có mặt tại phiên họp
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Lê Minh Đ; Chức vụ: Trưởng phòng – Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn H1, chức vụ: Phó trưởng phòng – Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên họp: Bà Trần Hồng Thắm – Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Ngày 13 tháng 6 năm 2018, Nguyễn Quốc T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. Công an xã V đã tiến hành lập biên bản đối với hành vi vi phạm nêu trên của T đồng thời có Công văn yêu cầu Trung tâm ý tế huyện H xác định tình trạng nghiện ma túy của T. Ngày 13/6/2018 thì bệnh viện đa khoa H cũng đã có phiếu trả lời kết quả đối với T là có nghiện ma túy tổng hợp (MET). Do đó, Công an xã V đã mời T đến cơ quan Công an xã để làm việc. Tại biên bản lấy lời khai ngày 13 tháng 6 năm 2018, bản tường trình ngày 15/6/2018 thì Tuấn xác định có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu nhưng ít khi có mặt tại địa phương mà thường xuyên đến xã V và một số xã lân cận khác để chơi với bạn bè.
Ngày 14 tháng 6 năm 2018, Ủy ban nhân dân xã V cũng đã có Công văn yêu cầu Ủy ban nhân dân thị trấn H xác định nơi cư trú của Nguyễn Quốc T thì Ủy ban nhân dân thị trấn H cũng đã có xác nhận T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Ấp T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu nhưng thường xuyên không có mặt tại địa phương và cũng không xác định được T đi nơi đâu, làm gì.
Ngày 19 tháng 6 năm 2018, Ủy ban nhân dân xã V lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Quốc T và chuyển hồ sơ đến Phòng tư pháp huyện H, tỉnh Bạc Liêu để xem xét theo quy định. Phòng tư pháp huyện H, tỉnh Bạc Liêu sau khi kiểm tra tính hợp lý của hồ sơ đã chuyển hồ sơ đến Phòng Lao động – thương binh và xã hội huyện H. Phòng Lao động – thương binh và xã hội huyện H đã ban hành văn bản số 298/LĐTBXH ngày 22/8/2018 đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Quốc T gửi Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu kèm theo hồ sơ.
Tại Quyết định số 24/QĐ-TA ngày 31/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu đã quyết định:
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Quốc T, sinh năm 1994. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 tháng, kể từ ngày Nguyễn Quốc T bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Ngoài ra, Quyết định còn ấn định thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị, quy định về hiệu lực của quyết định và cơ quan t
hi hành quyết định theo quy định pháp luật.
Ngày 05 tháng 9 năm 2018, người bị áp dụng Nguyễn Quốc T khiếu nại đối với quyết định số 24/QĐ-TA ngày 08/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện H. Nội dung khiếu nại: Nguyễn Quốc T đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết không áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Quốc T.
Tại phiên họp:
Ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị: Ngày 13 tháng 6 năm 2018, T sử dụng trái phép chất ma túy tổng hợp nên Công an xã V đã lập biên bản về hành vi vi phạm của T. Xét về độ tuổi và việc T không có nơi cư trú ổn định thì hành vi vi phạm trên của T thuộc trường hợp pháp áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là theo đúng quy định pháp luật. Do đó, đề nghị Tòa án vẫn giữ nguyên quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 24/QĐ-TA ngày 31/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T thời hạn là 12 tháng.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu: Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu khoản 1 Điều 35 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội không chấp nhận khiếu nại của ông Nguyễn Quốc T, giữ nguyên quyết định số 24/2018/QĐ-TA ngày 31/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Quốc T.
XÉT THẤY:
Sau khi xem xét đơn khiếu nại của Nguyễn Quốc T đối với Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 24/QĐ-TA ngày 31/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện H và hồ sơ kèm theo, thấy rằng:
Xét về đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 thì đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, không có nơi cư trú ổn định.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật cư trú năm 2006 sửa đổi, bổ sung năm 2013 thì: “Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú. Chỗ ở hợp pháp là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú. Chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật. Nơi thường trú là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn định, không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú. Nơi tạm trú là nơi công dân sinh sống ngoài nơi đăng ký thường trú và đã đăng ký tạm trú”.
Theo nội dung biên bản ghi lời khai ngày 13 tháng 6 năm 2018 thì Nguyễn Quốc T xác định có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp T, thị trấn H, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu nhưng ít khi có mặt tại địa phương mà thường xuyên đến những xã lân cận khác để chơi. Đồng thời tại phiếu xác minh tình trạng cư trú của Ủy ban nhân dân xã V đối với Tuấn thì Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu đã xác định T đã đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ như T xác định trên nhưng T thường xuyên vắng mặt tại địa phương, không rõ T đi đâu và làm gì.
Như vậy, T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu nhưng T xác định không thường xuyên sinh sống tại địa chỉ này. Đồng thời, khi đến những xã khác để chơi thì T cũng không có đăng ký tạm trú hoặc chỗ ở hợp pháp nào khác. Do đó, có căn cứ xác định Nguyễn Quốc T không có nơi cư trú ổn định và thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định pháp luật.
Xét về thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 20/12/2013 của Chính phủ: “ Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 03 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện hành vi sử dụng ma túy trái phép lần cuối bị phát hiện và lập biên bản theo quy định tại Điều 8 Nghị định này” và quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị quyết số 04/2015/HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao quy định: “Theo quy định tại khoản 2 Điều 6 của Luật xử lý vi phạm hành chính thì thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính là 01 năm, 06 tháng hoặc 03 tháng tùy từng trường hợp cụ thể và được tính từ ngày cá nhân thực hiện hành vi vi phạm hoặc kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối một trong những hành vi vi phạm; do đó, thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính được tính từ ngày cá nhân thực hiện hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 92 hoặc kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối một trong những hành vi vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 92; khoản 1 Điều 94 hoặc khoản 1 Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính cho đến ngày Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính”.
Do đó, ngày 13/6/2018, T sử dụng trái phép chất ma túy đã bị Công an xã V phát hiện và lập biên bản về hành vi vi phạm trên của T và sau khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành các thủ tục để lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì đến ngày 31/8/2018, Tòa án nhân dân huyện H đã ra quyết định số 24/QĐ-TA về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T. Do đó, thời gian kể từ thời điểm phát hiện T vi phạm về việc sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 13/6/2018 đến ngày 31/8/2018 Tòa án nhân dân huyện H ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý đối với T thì thời hạn là 79 ngày, nên việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T vẫn còn trong thời hạn luật định.
Theo nội dung đơn khiếu nại T cho rằng đây là lần đầu T có hành vi vi phạm việc sử dụng trái phép chất ma túy và T còn có 03 người con nhỏ nên yêu cầu được xem xét không áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T. Xét thấy: Tại biên bản ghi lời khia ngày 13/6/2018 thì T xác định T bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2017, thời gian sử dụng gần đây nhất là tháng 6/2018. Như vậy, đây không phải là lần đầu T sử dụng trái phép chất ma túy và các lý do T nêu trong đơn khiếu nại cũng không phải là căn cứ để không áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T cũng như căn cứ để giảm nhẹ thời hạn áp dụng cho T.
Hành vi vi phạm về việc sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Quốc T là một trong những tệ nạn xã hội làm phát sinh nhiều loại tội phạm, gây mất trật tự an ninh, trật tự địa phương và việc sử dụng ma túy cũng ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của T. Do đó, để cắt cơn nghiện và cai nghiện ma túy cho T để T có điều kiện tái hòa nhập và trở thành người có ích cho xã hội thì cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Quốc T như Quyết định số 24/QĐ-TA ngày 31/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu là phù hợp với quy định pháp luật.
Từ những phân tích đã nêu, không có căn cứ để chấp nhận khiếu nại của Nguyễn Quốc T. Ghi nhận ý kiến đề xuất của Kiểm sát viên và đại diện cơ quan đề nghị.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ khoản 1 Điều 35 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
QUYẾT ĐỊNH:
Không chấp nhận khiếu nại của ông Nguyễn Quốc T. Giữ nguyên quyết định số 24/QĐ-TA ngày 31/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện H về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Quốc T.
Quyết định:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại “Cơ sở cai nghiện ma túy” trực thuộc Sở lao động – Thương binh và xã hội tỉnh Bạc Liêu đối với Nguyễn Quốc T, sinh năm 1994
2. Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày Nguyễn Quốc T bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng lao động – Thương binh và xã hội huyện H, tỉnh Bạc Liêu phối hợp với Công an huyện H, tỉnh Bạc Liêu thi hành quyết định này.
Quyết định giải quyết khiếu nại là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành ngay.
THẨM PHÁN
| Nơi nhận : - VKSND tỉnh Bạc Liêu; -TAND huyện H; - Ông Nguyễn Quốc T; - Trưởng Công an huyện H; - Trưởng phòng LĐTBXH huyện H; - Ủy ban nhân dân xã V Lưu: HS | Lê Thanh Hùng |