- Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm... — án dân sự — "yêu cầu tháo dỡ vật kiến trúc"
- Tòa quyết gì? Xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị Phải
- Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 3 Luật giao thông đường bộ; Điều 12 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chí…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 05/2018/DS-ST Ngày: 17/01/2018 V/v tranh chấp đất đai và tháo dỡ công trình vật kiến trúc lấn chiếm” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ-TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Phong Phi
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Thanh Nghị
Bà Nguyễn Thị Kim Uyên
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Đỗ Ngọc Mai Thy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Hồ Nguyễn Thiết Bảnh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú. Tòa án nhân dân huyện An Phú mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 137/2017/TLST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2017 về việc “ tranh chấp đất đai và tháo dỡ công trình vật kiến trúc lấn chiếm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 567/2017/QĐST-DS ngày 04 tháng 12 năm 2017 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Hà Thị Ph, sinh năm: 1949; Cư trú: ấp An Hòa, xã Khánh An, huyện An Phú, An Giang.
- Bị đơn: Ông Huỳnh Văn C, sinh năm 1980; Cư trú: ấp An Hòa, xã Khánh An, huyện An Phú, An Giang.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Uỷ Ban nhân dân huyện An Phú; Địa chỉ: ấp An Thịnh, thị trấn An Phú, huyện An Phú, An Giang.
Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Là bà Nguyễn Thị Tuyết M - Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện An Phú theo giấy ủy quyền ngày 20/12/2017 của Chủ tịch UBND huyện An Phú. (Có mặt).
Công ty TNHH Thƣơng mại và dịch vụ nông nghiệp Thủ T. Địa chỉ: ấp An Thịnh, thị trấn An Phú, huyện An Phú, An Giang.
Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Là ông Nguyễn Công T - Chức vụ Giám đốc theo giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 1601714762 ngày đăng ký lần đầu 16/04/2012. (Vắng)
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Trong đơn khởi kiện và bản tự khai cùng với các tài liệu kèm theo của nguyên đơn bà Ph trình bày:
Bà có căn nhà cấp 4 loại nhà tường và được xây dừng từ năm 2013, đất nền nhà bà đang ở là đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được mua lại của vợ chồng ông Y và bà Dương. Phần đất mà bà tranh chấp với ông Cường là đất nằm phía trước mặt tiền nền nhà của bà. Khi cất nhà thì phần đất phía trước nhà thuộc chân taluy lộ, bà xây bó nền thẳng ra lộ. Nay phía trước nhà của bà là đất hành lang giao thông, chân taluy thì bà cũng yêu cầu ông Cường tháo dỡ mái che phía trước nhà trả lại mặt bằng phía trước, vì đó là mặt tiền nền trước nhà. Ông Cường nấu cháo làm khói bay vào nhà ảnh hưởng đến nhà của bà nên bà yêu cầu di dời và tháo dỡ đi nơi khác để trả lại đất và không gian phía trước nhà của bà. Bà đồng ý hỗ trợ chi phí di dời mái che cho ông Cường là 2.000.000 đồng.
Gia đình bà là gia đình có công với cách mạng, mẹ chồng là bà mẹ Việt Nam Anh Hùng, anh chồng và em chồng đều là liệt sĩ, chồng bà cũng là người đi kháng chiến. Mong Tòa án sớm giải quyết vụ án để bà yên tâm sống và ở ổn định.
Ông Cường trình bày: Năm 2015 bà Phải về cất nhà ở gần vách nhà ông, năm 2009 ông mua đất của Doanh nghiệp tư nhân Thủ tuyền với giá 30 triệu đồng, sau đó mua thêm phần dưới chân lộ taluy ngang 4 m dài 8 m của ông Y và bà Dương để cất nhà, hiện nay đất này vẫn chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần đất tranh chấp là đất chân lộ taluy khu dân cư và trung tâm thương mại Khánh An, là do ông mua của ông Thủ và hiện đang để nấu cháo bán hàng ngày, bà Phải kiện ông yêu cầu di dời là ông không đồng ý vì đất dó ông mua của ông Thủ.
Tòa án ban hành Công văn số 77 ngày 28/8/2017 yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện trả lời cho Tòa án biết phần đất tranh chấp phía trước nhà bà Phải hiện ông Cường đang cất nhà tạm để nấu cháo là ai quản lý. Ủy ban nhân dân huyện An Phú ban hành Công văn 1382/UBND-NC ngày 16/10/2017 về việc phúc đáp Công văn của Tòa án như sau: Phần đất bà Phải yêu cầu ông Cường di dời là phần đất nằm trước mặt tiền nhà của bà Phải (chân taluy Khu dân cư thương mại Khánh An). Khu dân cư thương mại Khánh An do DNTN Thủ tuyền làm chủ đầu tư, được bán các lô nền đất trên khu này, còn lại các hạ tầng khác thì bàn giao lại cho Nhà nước quản lý theo quy định.
Theo Công văn 3038/UBND-KT ngày 30/9/2011 của UBND tỉnh An Giang, Ông Lê Văn Nưng phó chủ tịch UBND tỉnh có ý kiến thống nhất giao đất có thu tiền sử dụng đất mái chân taluy thuộc dự án Khu dân cư thương mại Khánh An cho DNTN Thủ Tuyền theo đề xuất tại công văn số 1125/STNMT-ĐĐ ngày 20/09/2011 của Sở tài nguyên và môi trường tỉnh An Giang về đề xuất giao phần đất mái chân taluy của dự án KDC thương mại Khánh An. Tại phiên tòa đại diện UBND huyện An Phú cho rằng từ khi có Công văn 3038 đến nay Doanh nghiệp Thủ Tuyền vẫn chưa thực hiện theo chủ trương này, do đó đất taluy vẫn do Nhà nước quản lý.
Doanh nghiệp tư nhân Thủ Tuyền nay là Công ty TNHH Thương mại và dịch vụ nông nghiệp Thủ Tuyền do ông Nguyễn Công Thủ làm chủ doanh nghiệp: Tại biên bản lấy lời khai ngày 13/9/2017 ông Thủ trình bày như sau “Phần đất mà ông Cường đang tranh chấp với bà Phải là do ông cho cất nhà chứ không có lấy tiền, hiện nay phần khu trung tâm thương mại thì ông giao lại cho Nhà nước quản lý, riêng đất thuộc taluy lộ thì ông vẫn quản lý nên bà Phải không có quyền khởi kiện ông Cường”.
Kết quả thu thập chứng cứ như sau:
Theo kết quả đo đạc ngày 12/9/2017 của Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh An Phú thể hiện phần đất tranh chấp ở các điểm 7,13,a,12,11,b diện tích 8,9 m2, có chiều ngang phía trước giáp lộ là 2.16m, phía sau 2.20m một phần nằm trong đường biên khu TTTM Khánh An ở các điểm 7.13.a.b diện tích 8 m2 hiện trạng trên đất là nhà tạm của ông cường lợp tole, lưới bao B40, có 01 cây mít và lò củi nấu cháo. Phần nằm ngoài đường biên ở các điểm a,b,11,12 diện tích 0,9 m2
Theo kết quả định giá thể hiện giá trị của mái che là 250.000 đồng, giá trị của sân đal là 1.080.000 đồng, giá trị cát xây là 2.550.000 đồng, giá trị gạch xây là 1.260.000 đồng, 01 cây mít trị giá 610.000 đồng. Tổng giá trị các vật kiến trúc không tính giá trị đất là 5.750.000 đồng.
Quan điểm của vị đại diện Viện Kiểm Sát về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, đương sự là đúng thủ tục tố tụng. Cụ thể: Đối với Thẩm phán, xác định thẩm quyền, quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng là đúng pháp luật, thủ tục xét xử vắng mặt, cũng như việc tham gia xét hỏi tại phiên tòa của HĐXX, đối với Hội đồng xét xử không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, thủ tục xét xử được đảm bảo.
Quan điểm của Viện kiểm sát về nội dung vụ án: Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án Viện kiểm sát nếu lên quan điểm như sau: Việc bà Phải khởi kiện ông Cường là buộc ông Cường di dời mái che tạm phía trước nhà của bà và trả lại đất cho bà, qua kết quả thu thập chứng cứ của Tòa án thì UBND huyện có Công văn phúc đáp cho rằng phần đất tranh chấp là do Nhà nước quản lý, tuy nhiên UBND tỉnh có ý kiến giao lại cho Doanh nghiệp Thủ Tuyền với hình thức giao đất có thu tiền, như vậy phần đất tranh chấp hiện nay do ông Cường sử dụng trước khi bà Phải cất nhà, như vậy việc bà Phải khởi kiện yêu cầu ông Cường di dời mái che tạm trên phần đất thuộc chân ta luy do Nhà nước quản lý là chưa có cơ sở, nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của bà Phải.
Tại phiên Tòa nguyên đơn bà Phải bảo lưu ý kiến, bị đơn ông Cường không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đại diện Công ty Thủ Tuyền được triệu tập hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt, căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành tiến hành xét xử vắng mặt đại diện Công ty Thủ Tuyền.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp được giải quyết: Yêu cầu khởi kiện của bà Phải là buộc ông Cường phải tháo dỡ căn nhà tạm trước cửa nhà trả lại đất và không gian trước cửa nhà của bà Phải. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp được Toà án xem xét giải quyết là: “Tranh chấp đất đai và tháo dỡ công trình vật kiến trúc lấn chiếm ” theo quy định tại khoản 2, khoản 9, Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Khoản 2, Điều 14, Điều 5, Điều 6 Bộ luật dân sự năm 2015 và điểm b, khoản 2 Điều 203 Luật đất đai 2013.
Về thời hiệu: Đây là quan hệ về tranh chấp liên quan đến đất đai nên không xác định thời hiệu.
Nhận định về nội dung:
Bà Phải khởi kiện với hai yêu cầu, yêu cầu ông Cường phải trả đất cho bà phần đất phía trước thuộc hành lang an toàn đường bộ (lộ giới) và taluy, theo tự điển tiếng việt thì taluy có nghĩa là “mái đất vạt nghiêng của một hố đào, một nền đắp hay một công trình dựng đứng để tăng độ vững chắc”.
Theo quy định tại Điều 3 Luật giao thông đường bộ 2008 có định nghĩa tại khoản 4, như sau: Đất của đường bộ là phần đất trên đó công trình đường bộ được xây dựng và phần đất dọc hai bên đường bộ để quản lý, bảo trì, bảo vệ công trình đường bộ. Tại khoản 5, như sau: Hành lang an toàn đường bộ là dải đất dọc hai bên đất của đường bộ, tính từ mép ngoài đất của đường bộ ra hai bên để bảo đảm an toàn giao thông đường bộ.
Theo quy định tại Nghị định Số: 11/2010/NĐ-CP của chính phủ ngày 24/02/2010 Quy định về quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ. tại khoản 1 Điều 14 và điểm đ khoản 1 Điều 15 của Nghị định có quy đinh “Đối với đường ngoài đô thị: Căn cứ cấp kỹ thuật của đường theo quy hoạch, phạm vi hành lang an toàn của đường có bề rộng tính từ đất của đường bộ trở ra hai bên là 04 mét đối với đường có cấp thấp hơn cấp V.
Từ những quy định trên cho thấy phần đất mà các đương sự tranh chấp thuộc 03 loại đất đó là đất của đường bộ, hành lang an toàn đường bộ và mái taluy bảo vệ đường bộ.
Việc bà Phải là người trực tiếp sử dụng đất và có đất trước cửa nhà là đất hành lang an toàn đường bộ và đất taluy, qua kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và bản ảnh phần đất tranh chấp cho thấy việc ông Cường đặt các lò nấu cháo trước cửa nhà bà Phải và nấu củi sẽ làm khói bay vào nhà của bà Phải gây ảnh hưởng đến sinh hoạt của gia đình bà Phải là chưa phù hợp, ông Cường phải thực hiện việc nấu cháo không được để khói gây ảnh hưởng đến hộ của bà Phải và các hộ dân khác.
Theo quy định Khoản 2, Điều 14, Điều 5, Điều 6 Bộ luật dân sự năm 2015 Thì Tòa án không được từ chối giải quyết vụ án khi người dân có yêu cầu mà luật chưa quy định, theo tập quán cũng như quá trình sử dụng đất của Việt Nam thì đất phía trước cửa nhà người dân là đất vĩa hè, hành lang giao thông… đây là đất do Nhà nước quản lý nhưng mặc nhiên người dân có nhà tiếp giáp đường được quyền sử dụng, trong vụ án này, ông Cường lại sử dụng phần đất trước cửa nhà bà Phải để nấu cháo, làm khói bay vào nhà bà Phải là không đúng với tập quán sử dụng đất của người Việt Nam, tuy nhiên do đặc thù Khu trung tâm Thương mại Khánh An do ông Công ty Thủ Tuyền chuyển nhượng và bán cho các hộ dân, trong đó bán cho ông Cường trước (do ông Cường trình bày). Tuy nhiên do phần đất này là đất hành lang giao thông và taluy nên không thuộc quyền quản lý của bà Phải, việc bà khởi kiện yêu cầu di dời mái che là không thuộc thẩm quyền của Tòa án, mà rõ ràng thuộc thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực giao thông đô thị.
Về yêu cầu buộc ông Cường trả đất cho bà Phải do đây là đất thuộc phạm vi hành lang an toàn đường bộ, taluy nên bà không có cơ sở để đòi lại đất này, Tại phiên tòa hôm nay bà Phải cũng trình bày là rút lại yêu cầu đòi đất, Xét thấy việc rút yêu cầu nói trên là hoàn toàn tự nguyện, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217, khoản 2 Điều 244 BLTTDS 2015, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bà; nếu sau này bà khởi kiện thì sẽ giải quyết bằng vụ án khác. Bà Phải không phải chịu án phí đối với yêu cầu đã đình chỉ xét xử”.
Đối với sai phạm của Công Ty Thủ Tuyền do UBND tỉnh An Giang xử lý, Tòa án nhận định việc sai phạm của công ty thì nhà nước tiếp tục giải quyết, Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật và nội dung Công văn trả lời của UBND huyện cho rằng ông Thủ, Giám đốc Công ty Thủ Tuyền đã bàn giao toàn bộ hạ tầng và công trình giao thông trong khu dân cư và Trung tâm thương mại Khánh An cho Nhà nước quản lý, do đó việc ông Thủ cho rằng đất taluy vẫn còn của ông là không có cơ sở pháp lý.
Ông Cường cho rằng đất là của ông mua của ông Thủ, Tòa án đã ban hành Quyết định yêu cầu ông cung cấp chứng cứ chứng minh việc ông mua phần đất tranh chấp của ông Thủ nhưng ông không cung cấp được, do đó không có cơ sở để xem xét trách nhiệm của ông Thủ đối với ông và ông cũng không có yêu cầu đối với ông Thủ, ông Thủ trình bày đất đó ông Thủ cho ông sử dụng chứ không bán, việc Công ty Thủ Tuyền sử dụng đất hành lang giao thông và taluy để bán hay cho người khác sử dụng mà không có ý kiến của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là sai với quy định về quản lý đất đai, xâm phạm quyền lợi của nhà nước và công dân do đó UBND tỉnh An Giang đang xử lý sai phạm của Công ty Thủ Tuyền là có cơ sở.
Việc ông Cường cho rằng đất của ông mua của ông Thủ, nhưng ông không có giấy tờ về đất, không phải là chủ sử dụng đất trực tiếp liền kề phía trước như bà Phải, ông không có giấy tờ chứng minh có việc chuyển nhượng từ ông Thủ, do đó việc ông sử dụng phần đất và cất mái che tạm qua đất trước cửa nhà bà Phải, Theo kết quả đo đạc ngày 12/9/2017 của Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh An Phú thể hiện phần đất tranh chấp ở các điểm 7,13,a,12,11,b diện tích 8,9 m2 là hoàn toàn không có cơ sở, theo quy định tại Điều 35 Luật giao thông đường bộ 2008: Hè phố chỉ được sử dụng cho mục đích giao thông. Trường hợp đặc biệt, việc sử dụng tạm thời một phần hè phố vào mục đích khác phải do UBND cấp tỉnh quy định nhưng không được làm ảnh hưởng đến trật tự, an toàn giao thông.
Do đó Kiến nghị UBND huyện An Phú căn cứ khoản 4, Điều 12 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, có quy định: “4. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với tổ chức thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây: a) Dựng rạp, lều quán, cổng ra vào, tường rào các loại, công trình tạm thời khác trái phép trong phạm vi đất dành cho đường bộ, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm đ Khoản 5, Điểm a Khoản 8 Điều này”… yêu cầu các hộ dân lấn chiếm tháo dỡ vật kiến trúc, trong đó có hộ ông Cường, để lập lại trật tự hành lang an toàn giao thông tại Khu dân cư trung tâm thương mại Khánh An.
Công ty Thủ Tuyền đến nay vẫn chưa thực hiện chủ trương của UBND tỉnh về việc giao đất có thu tiền do đó đất này vẫn do Nhà nước quản lý. Nếu có thực hiện giao đất phải căn cứ vào hiện trạng sử dụng đất của các hộ dân để giao đất cho phù hợp, không được giao đất trường hợp của ông Cường trước nhà bà Phải, tránh xảy ra xáo trộn trong việc sử dụng đất liền kề trước mặt tiền của các hộ dân.
Từ những nhận định như trên và xem xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát xét thấy phần đất tranh chấp là đất do nhà nước quản lý nên bà Phải khởi kiện là không có cơ sở chấp nhận tuy nhiên đất do Nhà nước quản lý thì thẩm quyền thuộc UBND các cấp trong lĩnh vực quản lý hành lang an toàn đường bộ cũng như taluy.
Về chi phí tố tụng: Chi phí định giá là 500.000 đồng; Chi phí đo đạc và xem xét thẩm định tại chỗ là 800.000 đồng theo biên nhận giữa Tòa án nhân dân huyện An Phú và bà Phải, chi phí hợp đồng đo đạc với Văn phòng đăng ký đất đai là 567.600 đồng theo hóa đơn số 0002544 ngày 15/9/2017 của Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh An Phú, do yêu cầu của bà Phải không được chấp nhận nên bà phải chịu chi phí này, (tiền này bà đã nộp xong nên không phải nộp thêm).
Về án phí:
Do yêu cầu của bà Phải không được chấp nhận nên bà phải chịu án phí. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án bà Phải có nộp giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ, mẹ chồng bà là bà mẹ Việt Nam Anh hùng, chồng bà là người có công cách mạng nên thuộc trường hợp được quy định tại điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết 326 của UBTV Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án, nên bà được miễn án phí.
Ông Cường không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b, khoản 2, Điều 203 Luật đất đai 2013;
Căn cứ Điều 5, Điều 6, Khoản 2, Điều 14, Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Khoản 2, khoản 9, Điều 26; điểm c khoản 1 Điều 217, khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Khoản 4, khoản 5, Điều 3 Luật giao thông đường bộ;
Căn cứ Nghị quyết 236 của UBTV Quốc Hội về án phí lệ phí Tòa án ;
Xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị Phải
Về việc buộc ông Huỳnh Văn Cường tháo dỡ mái che tạm trước cửa nhà bà Hà Thị Phải thuộc đất hành lang an toàn đường bộ và taluy do Nhà nước quản lý, Theo kết quả đo đạc ngày 12/9/2017 của Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh An Phú thể hiện ở các điểm 7,13,a,12,11,b diện tích 8,9 m2.
Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị Phải về việc yêu cầu ông Huỳnh Văn Cường giao phần đất ở các điểm ở các điểm 7,13,a,b diện tích 8,0m2 theo kết quả đo đạc ngày 12/9/2017 của Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh An Phú.
Chi phí định giá là 500.000 đồng; Chi phí đo đạc và xem xét thẩm định tại chỗ là 800.000 đồng theo biên nhận giữa Tòa án nhân dân huyện An Phú và bà Phải, chi phí hợp đồng đo đạc với Văn phòng đăng ký đất đai là 567.600 đồng theo hóa đơn số 0002544 ngày 15/9/2017 của Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh An Phú, do yêu cầu của bà Phải không được chấp nhận nên bà phải chịu chi phí này, (tiền này bà đã nộp xong nên không phải nộp thêm).
Về án phí:
Bà Phải không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, bà được nhận lại tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng, theo biên lai tạm ứng án phí số 0011085 ngày 25/5/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện An Phú,
Ông Cường không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TA Tỉnh ; - VKS huyện; - CC THADS; - UBND xã Khánh An; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu VP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phong Phi |