vanban.org

Quyết định 04/QĐ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguỵ Nam S tại cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Yên Bái.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc tại tỉnh Yên Bái là: 01(Một) năm 08(Tám) tháng. Kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nguỵ Nam S có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày công bố Quyết định… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Toà án"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguỵ Nam S tại cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Yên Bái.
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 22 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: /QĐ-TAT, ngày 29 tháng 3 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH

ĐƯA VÀO CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hải

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng

Ngày 29 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Yên Bái tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 04/2019/QĐ-TA ngày 26 tháng 3 năm 2019, đối với:

Họ và tên: Nguỵ Nam S; tên gọi khác: không; giới tính: Nam; sinh ngày 27 tháng 12 năm 1986; số chứng minh nhân dân: 060790202 cấp năm 2004 do Công an tỉnh Yên Bái cấp; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hoá: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; quê quán: Xã C, huyện X, tỉnh Nam Định; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố số 5, thị trấn C, huyện T, tỉnh Yên Bái; con ông Nguỵ Văn V sinh năm 1952 và con bà Nguyễn Thị V sinh năm 1958 hiện trú tại Tổ dân phố số 5,thị trấn C, huyện T, tỉnh Yên Bái; nhân thân: Năm 2009 bị Toà án nhân dân huyện T xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”; năm 2009 bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”; tiền sự: Quyết định số 06b/QĐ-UBND ngày 23-02-2018 của Chủ tịch UBND thị trấn C, huyện T về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại thị trấn do nghiện ma túy. Nguỵ Nam S: Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

- Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Hoàng Viết Hải, chuyên viên Phòng Lao động-Thương binh và thị trấn hội huyện T, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Yên Bái tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Mạnh Toàn, Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Bản tường trình và tại phiên họp người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính anh Nguỵ Nam S trình bày: S là người nghiện có sử dụng chất ma túy (Heroin), S sử dụng ma túy từ năm 2014 nhiều lần dưới hình thức chích chất ma tuý vào cơ thể. Bản thân nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy nên ngày 23-02-2018 đã bị Chủ tịch UBND thị trấn C áp dụng biện pháp giáo dục tại thị trấn trong thời gian 03 tháng : Lý do sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 23-5-2018 Chủ tịch UBND thị trấn C ra Quyết định số 12/GCN-UBND về việc đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và giao cho Công an thị trấn C tiếp tục quản lý theo dõi giáo dục. Đến ngày 07-3-2019 S tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý tại nhà. Công an thị trấn C phối hợp trạm Y tế thị trấn C xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của S và cho kết quả dương tính với ma tuý (Hêroin). S thừa nhận bản thân vẫn sử dụng trái phép chất ma túy, chưa từ bỏ được ma tuý.

Xét hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguỵ Nam S chưa đến mức là tội phạm nhưng vẫn là nguy hiểm cho xã hội làm gia tăng nhiều loại tội phạm, ảnh hưởng đến trật tự an ninh, an toàn xã hội. Nên ngày 22-3-2019 Phòng Lao động- Thương binh và xã hội huyện T, tỉnh Yên Bái có công văn số: 80/CV-LĐTBXH đề nghị Tòa án nhân dân huyện T áp dụng biện pháp đưa Nguỵ Nam S vào cơ sở điều trị nghiện ma túy bắt buộc tại tỉnh Yên Bái thời hạn 02 (Hai) năm.

Tại phiên họp: Đại diện Phòng Lao động- Thương binh và xã hội huyện T đề nghị Tòa án nhân dân huyện T áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguỵ Nam S với thời gian là 01(Một) năm 08 tháng vì S là lao động chính trong gia đình, đang nuôi con trong độ tuổi đi học, ở chung với bố mẹ già.

Tại phiên họp người bị đề nghị anh Nguỵ Nam S thừa nhận là người nghiện chất ma túy. Sau khi được áp dụng biện pháp giáo dục tại thị trấn và biện pháp quản lý tại gia đình vẫn chưa từ bỏ được ma túy tiếp tục sử dụng ma túy. Anh Nguỵ Nam S tự nguyện nhận quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện tại cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Yên Bái, xin được áp dụng thời hạn thấp nhất để sớm được trở về hoà nhập cộng đồng chăm sóc con và gia đình vì bản thân là trụ cột gia đình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định biện pháp xử lý hành chính của Tòa án nhân dân huyện T đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguỵ Nam S đã đầy đủ, đúng theo quy định của pháp luật. Căn cứ Điều 95, khoản 1 Điều 96, điểm a khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính nhất trí đề nghị đưa Nguỵ Nam S vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn là 01(Một) năm 08 tháng.

Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ do Công an thị trấn C, huyện T, tỉnh Yên Bái lập, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện hồ sơ, ý kiến của cơ quan đề nghị, ý kiến của Kiểm sát viên, người bị đề nghị.

XÉT THẤY:

Tại phiên họp người bị đề nghị anh Nguỵ Nam S là đối tượng nghiện chất ma túy nhiều năm. Ngày 23-2-2018 bị áp dụng biện pháp giáo dục tại thị trấn C do sử dụng trái phép chất ma túy, đến 23-5-2018 chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. S không chịu tu dưỡng bản thân tiếp tục tái nghiện. S là người có đủ năng lực trách nhiệm hành chính, hiểu biết pháp luật nhưng vì nghiện chất ma túy không làm chủ được bản thân coi thường pháp luật. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và nghiện chất ma túy của Nguỵ Nam S gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương việc đưa Nguỵ Nam S vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là cần thiết. Tuy nhiên cũng cần xem xét rút ngắn một thời gian cho S vì S đã nhận thức được tự nguyện chấp hành, bản thân là trụ cột gia đình, gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Xét trình tự hồ sơ do cơ quan đề nghị đã lập đúng trình tự theo thủ tục quy định tại Điều 103, Điều 104 luật xử lý vi phạm hành chính. Xét đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguỵ Nam S của phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện T là có căn cứ. Do đó, chấp nhận đề nghị của phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện T đề nghị Tòa án nhân dân huyện T áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Nguỵ Nam S vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời gian để chữa bệnh, giáo dục S thành công dân có ích cho xã hội.

Vì các lẽ trên:

- Căn cứ Điều 95, 96, 105, 110 Luật xử lý vi phạm hành chính.

- Căn cứ Điều 3, Điều 22, Điều 23 và Điều 31 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguỵ Nam S tại cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Yên Bái.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc tại tỉnh Yên Bái là: 01(Một) năm 08(Tám) tháng. Kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Nguỵ Nam S có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày công bố Quyết định. Phòng Lao động- Thương binh và xã hội huyện T có quyền kiến nghị trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định; Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Phòng Lao động -Thương binh và xã hội huyện T phối hợp với Công an huyện T có trách nhiệm thi hành quyết định này./.

Cỡ chữ