- Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Thành T (Có lý lịch như trên).
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 04/QĐ-TA | Vĩnh Châu, ngày 14 tháng 5 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Chu Đức Chương.
2. Thư ký phiên họp: Ông Lâm Quốc Việt.
Ngày 14 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng; tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 04/QĐ-TA ngày 07 tháng 5 năm 2018, đối với:
Họ và tên: Nguyễn Thành T;
Giới tính: Nam;
Sinh ngày: 14/8/1988;
CMND số: 365734692; Ngày cấp: 20/10/2009; Nơi cấp: CA tỉnh Sóc Trăng;
Dân tộc: Kinh
Tôn giáo: Không;
Trình độ văn hóa: Lớp 06/12;
Nguyên quán: Thị xã V, tỉnh Sóc Trăng;
Hộ khẩu thường trú: Số nhà 100/100 đường M, Khóm K, Phường Y, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng;
Chỗ ở: Số nhà 100/100 đường M, Khóm K, Phường Y, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng;
Nghề nghiệp: Làm công;
Tiền án: 01 tiền án;
Tiền sự: Không;
Con ông: Nguyễn Thanh N và bà: Nguyễn Thị Bé L;
Anh Nguyễn Thành T vắng mặt tại phiên họp, dù đã được tống đạt hợp lệ Quyết định và Thông báo mở phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Hứa Trường Sơn, Trưởng phòng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thị xã Vĩnh Châu.
2. Đại diện Viện kiểm sát: Bà Phạm Thị Diệp, Kiểm sát viên.
3. Những người khác: Đại diện Ủy ban nhân dân Phường Y, thị xã Vĩnh Châu: Ông Lưu Văn Dũng, là Công chức Tư pháp - Hộ tịch.
NHẬN THẤY:
- Theo Bản tóm tắt lý lịch (BL 66) và tài liệu có trong hồ sơ thì vào ngày 11/5/2017, anh Nguyễn Thành T bị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, anh T chưa thi hành Quyết định xử phạt này (BL 17, 18), vẫn sử dụng trái phép chất ma túy nên Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường Y, thị xã Vĩnh Châu ban hành Quyết định số 213/QĐ-UBND ngày 28/7/2017, về áp dụng biện pháp giáo dục tại Phường Y với anh T, thời hạn từ ngày 28/7/2017 đến ngày 28/10/2017 (BL 41); Quyết định nêu trên đã được thi hành đúng quy định tại Điều 109 của Luật Xử lý vi phạm hành chính, anh T không có ý kiến phản đối hay khiếu nại; ngày 30/10/2017, anh T được Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường Y cấp Giấy chứng nhận số 03/GCN-UBND về việc đã chấp hành xong thời hạn giáo dục tại Phường Y (BL 51).
Sau khi chấp hành xong Quyết định về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại Phường Y, anh Nguyễn Thành T tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy nên ngày 06/4/2018 bị công an Phường Y kiểm tra, phối hợp với Trạm y tế Phường Y xét nghiệm chất ma túy và lập Biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Cùng ngày 06/4/2018, Công an Phường Y có Bản đề nghị số 125/ĐN-CAP gửi Trung tâm y tế thị xã Vĩnh Châu, đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy đối với anh T (BL 61). Tại Phiếu trả lời kết quả của Trung tâm y tế thị xã Vĩnh Châu, Bác sỹ được cấp Giấy chứng nhận đào tạo về việc chẩn đoán tình trạng nghiện ma túy đã xác định: Anh Nguyễn Thành T có nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng là Methamphetamine (Ma túy đá).
Căn cứ Phiếu xác định tình trạng nghiện ma túy, Công an Phường Y tiến hành thu thập tài liệu và lập hồ sơ giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường Y đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T. Hồ sơ được Phòng Tư pháp thị xã Vĩnh Châu kiểm tra, tại Thông báo số 04/TB/PTP ngày 13/4/2018 của Phòng Tư pháp kết luận: Hồ sơ đảm bảo tính pháp lý.
Ngày 26/4/2018, Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thị xã Vĩnh Châu có Bản đề nghị số 10/LĐTBXH, đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Thành T.
- Ý kiến của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thị xã Vĩnh Châu tại phiên họp: Nguyễn Thành T là đối tượng nghiện ma túy, đã được áp dụng biện pháp giáo dục tại Phường Y nhưng vẫn còn nghiện, cần phải áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để cai nghiện, học tập. Vì vậy, đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu quyết định đưa Nguyễn Thành T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 18 tháng.
- Ý kiến của đại diện Ủy ban nhân dân Phường Y, thị xã Vĩnh Châu: Nguyễn Thành T có điều kiện sống, học tập tốt; sức khỏe, tâm lý phát triển bình thường nhưng đã nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại Phường Y do nghiện ma túy nhưng vẫn còn nghiện nên đề nghị Tòa án quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo đề nghị của cơ quan đề nghị.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu: Tòa án thụ lý vụ việc đúng thẩm quyền, xác định người tham gia đúng và đầy đủ; đảm bảo thời hạn mở phiên họp, thành phần tham gia phiên họp và quyền, nghĩa vụ của những người tham gia phiên họp; Thẩm phán, Thư ký và những người tham gia phiên họp đã tuân thủ đúng các quy định của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính. Việc lập, thẩm định hồ sơ, đề nghị của các cơ quan liên quan được tiến hành đúng quy định của pháp luật, phù hợp với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi vi phạm của người bị đề nghị. Vì vậy, đề nghị Tòa án quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thành T.
XÉT THẤY:
Về thủ tục.
Anh T đã được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý hồ sơ, Quyết định mở phiên họp nhưng không có văn bản trình bày ý kiến, vắng mặt không có lý do nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt của mình. Phiên họp được tiến hành vắng mặt anh T theo Khoản 2 Điều 19 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Về nội dung giải quyết.
- Xét tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị.
+ Thứ nhất, việc lập hồ sơ:
Căn cứ tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ thì anh T đã trên 18 tuổi; cư trú ổn định tại số nhà 100/100 đường M, Khóm K, Phường Y, thị xã V. Vì vậy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường Y lập hồ sơ đề nghị gồm có Bản tóm tắt lý lịch (BL 66), Bản tường trình của anh T (BL 58), Biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (BL 60), Phiếu xét nghiệm có kết quả dương tính với chất ma túy cùng thời điểm (BL 63), Giấy chứng nhận đã chấp hành xong Quyết định giáo dục tại Phường Y (BL 51) và các tài liệu liên quan đúng quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 103 của Luật Xử lý vi phạm hành chính; người xác định tình trạng nghiện ma túy của anh T đúng quy định tại Khoản 3 Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP, thông báo cho anh T về việc lập hồ sơ đề nghị (BL 68) đúng quy định tại Khoản 3 Điều 103 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
+ Thứ hai, việc chuyển hồ sơ đề nghị:
Sau khi nhận hồ sơ theo Thông báo số 04/TB/PTP ngày 13/4/2018 của Phòng Tư pháp (Nhận ngày 19/4/2018), đến ngày 26/4/2018, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thị xã Vĩnh Châu chuyển hồ sơ đề nghị đến Tòa án là đúng quy định Khoản 1 Điều 104 của Luật Xử lý vi phạm hành chính, đảm bảo thời hiệu quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 6 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
- Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, mức độ nhận thức của người bị đề nghị.
Hành vi sử dụng chất ma túy của anh T đã xâm phạm hoạt động quản lý của Nhà nước về chất ma túy; ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tinh thần của chính anh T; là tiền đề để anh T lôi kéo hoặc bị người khác lôi kéo cùng sử dụng trái phép chất ma túy, gây mất an ninh trật tự trên địa bàn, ảnh hưởng đến đời sống của cộng đồng. Cho nên, anh T là đối tượng cần thiết phải đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, quy định Khoản 1 Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Trong quá trình lập hồ sơ, anh T có Bản tự khai (BL 58) thừa nhận hành vi vi phạm; xác định không thể tự cai nghiện được, hợp tác tốt với cơ quan lập hồ sơ, tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Bên cạnh đó, anh T không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 10 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
- Xét ý kiến của người tham gia phiên họp.
Đại diện cơ quan đề nghị cho rằng việc lập hồ sơ đảm bảo trình tự, thủ tục, thẩm quyền và cơ sở pháp lý, đề nghị Tòa án quyết định đưa người bị đề nghị vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 18 tháng là có căn cứ chấp nhận.
Ý kiến của đại diện Ủy ban nhân dân Phường Y, của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tại phiên họp là phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đề nghị; phù hợp với các quy định của pháp luật, tình hình thực tế của người bị đề nghị.
- Lý do, căn cứ và sự cần thiết áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người bị đề nghị.
Mặc dù có điều kiện sống, học tập tốt; sức khỏe, tâm lý phát triển bình thường và đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại Phường Y do nghiện ma túy nhưng anh T vẫn còn nghiện và thừa nhận không thể tự cai nghiện được. Như vậy, anh T bị lệ thuộc vào chất ma túy đã sử dụng nên có thể sẽ phải sử dụng ma túy bằng mọi giá, có nguy cơ vi phạm pháp luật nghiêm trọng hơn làm ảnh hưởng đến nhân thân của anh T và trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải đưa anh T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời gian theo quy định tại Điều 95 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Anh T có 01 tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng; trình độ học vấn đến lớp 06/12, không có nghề nghiệp ổn định nên cần được lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian tương đối dài để quản lý, giúp đỡ anh T không vi phạm pháp luật, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Thành T (Có lý lịch như trên).
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Anh Nguyễn Thành T có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Quyết định; Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thị xã Vĩnh Châu có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu có quyền kháng nghị đối với Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày công bố, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét lại Quyết định này.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thị xã Vĩnh Châu phối hợp với Công an thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng thi hành Quyết định này.
| Nơi nhận: - Anh Nguyễn Thành T; - Trưởng phòng LĐTB&XH thị xã Vĩnh Châu - Công an thị xã Vĩnh Châu; - UBND Phường Y; - TAND tỉnh Sóc Trăng; - Sở Tư pháp Sóc Trăng; - VKSND thị xã Vĩnh Châu; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN CHU ĐỨC CHƯƠNG |