- Tranh chấp gì? "Lưu Tài N"
- Tòa quyết gì? Không áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lưu Tài N.
- Căn cứ chính? Nghị định số 111/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 3 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN TỈNH BÌNH DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 04/2018/QĐ-TA Ngày 12/6/2018 |
QUYẾT ĐỊNH
Không áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƢƠNG
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Võ Nguyễn Ngọc Quang.
2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Đình Đông Quân.
Ngày 12 tháng 6 năm 2018, tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình Dương tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định mở phiên họp số 40/TL-XLVPHC ngày 01 tháng 6 năm 2018 đối với:
Họ và tên: Lưu Tài N, sinh năm 1993; Giới tính: Nam.
CMND số: 381769293; Ngày cấp 28/12/2012; Nơi cấp: Công an tỉnh Cà Mau.
Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12;
Nguyên quán: Tỉnh Cà Mau.
Thường trú: Ấp K, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau.
Tạm trú: Số 9/39B, tổ 62, khu phố Đ, phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương.
Nghề nghiệp: Công nhân.
Tiền án, tiền sự: Không.
Con ông Lưu Tấn L và bà Trịnh Hồng N.
Bị tạm giữ từ ngày 19/3/2018 cho đến nay, có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Phan Hoài Bảo là nhân viên Phòng Lao động
- Thương binh và Xã hội thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
2. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương: Bà Đặng Thị Huyền, Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY
Vào khoảng 21 giờ ngày 19/3/2018, Công an phường T tuần tra đến đoạn đường thuộc khu phố Đ, phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương. Lúc này, Công an phát hiện đối tượng Lưu Tài N có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy nên đưa về Công an phường T làm việc. Qua làm việc, N khai nhận sử dụng trái phép chất ma túy từ đầu năm 2018 cho đến nay, lần gần nhất sử dụng ma túy vào ngày 17/3/2018, loại ma túy sử dụng là Methamphetamine. Kết quả khám chẩn đoán xác định N nghiện ma túy loại Methamphetamine. Công an đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với N.
- Ý kiến cơ quan đề nghị: Giữ nguyên quan điểm áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lưu Tài N, đề nghị đưa N vào cai nghiện bắt buộc với thời gian từ 12 (mười hai) tháng đến 14 (mười bốn) tháng.
- Ý kiến đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An:
Về thủ tục: Quá trình thụ lý hồ sơ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và tại phiên họp Thẩm phán, Thư ký, đại diện cơ quan đề nghị, người bị đề nghị đã thực hiện theo đúng quy định của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Về nội dung: Qua đơn xin bảo lãnh của ông Lưu Tấn L là cha ruột Lưu Tài N thể hiện N có hộ khẩu thường trú tại ấp K, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau và có đăng ký tạm trú, thường xuyên sinh sống tại số 9/39B, tổ 62, khu phố Đ, phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương. Ngoài ra, gia đình có đơn xin bảo lãnh cho Lưu Tài N về cai nghiện và giáo dục tại nơi tạm trú. Do đó, Lưu Tài N không thuộc đối tượng đưa đi cai nghiện bắt buộc theo Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ. Đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại địa phương đối với Lưu Tài N theo Nghị định 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013 của Chính phủ.
- Ý kiến của người bị đề nghị: Lưu Tài N trình bày có hộ khẩu thường trú tại ấp K, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau và có đăng ký tạm trú, thường xuyên sinh sống tại số 9/39B, tổ 62, khu phố Đ, phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương từ năm 2013 đến khi bị tạm giữ. Từ năm 2013 đến khi bị tạm giữ, N vào làm công nhân ở Công ty TNHH MTV DV TM LQ, trụ sở khu phố Đ, phường T, thị xã D. N bắt đầu sử dụng ma túy đá từ đầu năm 2018 cho đến nay, lần gần nhất sử dụng ma túy vào ngày 17/3/2018. Từ lúc bị tạm giữ đến nay N đã biết hối lỗi, đề nghị xem xét cho được tự cai nghiện tại gia đình.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến tranh luận của cơ quan đề nghị, người bị đề nghị.
XÉT THẤY
Về thẩm quyền xem xét, quyết định:
Hồ sơ của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương lập đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lưu Tài N không có nơi cư trú ổn định. Do đó, căn cứ Khoản 2 Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và Khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân năm 2014 thì Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An thụ lý, xem xét, quyết định đối với hồ sơ trên là đúng thẩm quyền.
Về thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính:
Căn cứ vào biên bản vi phạm hành chính đối với Lưu Tài N lập ngày 20/3/2018 do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, ngày 30/5/2018 Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An thụ lý hồ sơ xem xét, quyết định là còn thời hiệu xử lý vi phạm hành chính, được quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính, Điều 4 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Về nội dung xem xét:
Tại phiên họp, Lưu Tài N trình bày về nơi cư trú phù hợp với đơn xin bảo lãnh của ông Lưu Tấn L là cha ruột Lưu Tài N, thể hiện N có hộ khẩu thường trú tại ấp K, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau và có đăng ký tạm trú, thường xuyên sinh sống tại số 9/39B, tổ 62, khu phố Đ, phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương từ năm 2013 đến khi bị tạm giữ. N làm công nhân ở Công ty TNHH MTV DV TM LQ, trụ sở khu phố Đ, phường T, thị xã D từ năm 2013 đến khi bị tạm giữ được Công ty xác nhận. Tại phiên họp, N khai nhận về việc sử dụng trái phép chất ma túy (Methamphetamine) phù hợp với phiếu trả lời kết quả ngày 20/3/2018 về việc xác định người nghiện ma túy của Trạm y tế phường A thuộc Trung tâm y tế thị xã D. Bản thân N là người đã thành niên, biết tác hại của ma túy nhưng vẫn sử dụng, bất chấp hậu quả, do đó phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình đã thực hiện. Tuy nhiên, N có nơi cư trú ổn định nhưng chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại địa phương, nên không thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại theo Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.
Mặt khác, ông Đoàn Văn X là chủ nhà trọ tại đơn xin xác nhận nơi tạm trú ngày 31/5/2018 xác nhận Lưu Tài N có đăng ký tạm trú và thường xuyên sinh sống tại số 9/39B, tổ 62, khu phố Đ, phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương từ năm 2013 đến nay. Tổ trưởng tổ 62 và những người dân xung quanh dãy trọ xác nhận nơi cư trú của N phù hợp với lời khai ông X. Xét thấy, ông Lưu Tấn L và gia đình thực tế có đăng ký tạm trú và thường xuyên sinh sống tại số 9/39B, tổ 62, khu phố Đ, phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương từ năm 2013 đến nay. Ông Lưu Tấn L đã có đơn xin bảo lãnh cho Lưu Tài N về cai nghiện và giáo dục tại nơi tạm trú. Do đó, có căn cứ không áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại theo Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ mà áp dụng áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại địa phương đối với Lưu Tài N theo Nghị định 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013 của Chính phủ.
Về nhân thân: Lưu Tài N chưa có tiền án, tiền sự.
Đối với ý kiến của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thị xã Dĩ An về việc đưa Lưu Tài N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với lý do đối tượng không có nơi cư trú nhất định là không có căn cứ chấp nhận. Đối với đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát không đưa Lưu Tài N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là có cơ sở.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Không áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lưu Tài N.
2. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện có quyền khiếu nại, cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện Kiểm sát có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
3. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
4. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thị xã Dĩ An, Công an thị xã Dĩ An và Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình Dương có trách nhiệm thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã Dĩ An; - Trưởng Phòng LĐ –TB và XH thị xã Dĩ An; - Trưởng Công an thị xã Dĩ An; - UBND phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương; - Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình Dương; - Người bị áp dụng; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Võ Nguyễn Ngọc Quang |