vanban.org

Quyết định 04/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc T1.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày nhậ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Qđ xử lý VPHC"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc T1.
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Số: 04/QĐ – TA
Thủ Dầu Một, ngày 15 tháng 01 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm.

2. Thư ký phiên họp: Bà Lê Cao Minh Thư.

Ngày 15 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 05/QĐ

- TA ngày 09 tháng 01 năm 2025 đối với:

Họ và tên: Lê Ngọc T1.Giới tính: Nam.

Sinh ngày 01 tháng 02 năm 1995

CCCD số 074095006038. Ngày cấp: 10/5/2021. Nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý Hành chính về Trật tự Xã hội.

Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hoá: 7/12

Nguyên quán: Tỉnh Bình Dương

Hộ khẩu thường trú: Số 589/4 đường Phú Lợi, tổ 82, khu phố 9, phường Phú Lợi, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

Chỗ ở: Số 589/4 đường Phú Lợi, tổ 82, khu phố 9, phường Phú Lợi, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

Nghề nghiệp: Làm thuê.

Tiền án: 02 tiền án về tội trộm cắp tài sản.

Tiền sự: Không

Con ông Lê Văn P và bà Trà Thanh T2.

Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Người đề nghị: Bà Vi Thị Tâm L - Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Duy V (văn bản ủy quyền số 278/CV-LĐ.TBXH ngày 11/8/2022).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một: Bà Lê Thị Hoài - Kiểm sát viên.

Biện pháp được đề nghị áp dụng: Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

NHẬN THẤY:

Theo hồ sơ đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc T1 do Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T chuyển đến thể hiện:

Ngày 26/11/2024, Công an phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương phát hiện Lê Ngọc T1 sử dụng trái phép chất ma tuý. Căn cứ phiếu trả lời về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 26/11/2024 của Trạm Y tế phường P thể hiện: Lê Ngọc T1 có nghiện ma túy, loại Methamphetamine. Do đó, Chủ tịch UBND phường P đã ban hành Quyết định về việc lập hồ sơ đề nghị đưa Lê Ngọc T1 vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và Quyết định giao Lê Ngọc T1 cho gia đình quản lý.

Ngày 26/11/2024, Công an phường P đã ban hành Thông báo số 31/TB-CAP về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Thông báo đã được giao cho Lê Ngọc T1.

Ngày 03/01/2025, Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T đã ban hành văn bản số 08/ĐN-CNBB về việc đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc T1.

Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T phát biểu quan điểm: Lê Ngọc T1 đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, đã được cơ quan có thẩm quyền xác định có nghiện ma tuý. Do Lê Ngọc T1 đã thành niên, có nơi cư trú ổn định, từng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại phường do nghiện ma túy nhưng vẫn còn nghiện nên đề nghị Toà án đưa Lê Ngọc T1 vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian từ 15 tháng đến 18 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một phát biểu quan điểm: Hồ sơ đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc T1 đúng theo qui định của Luật xử lý vi phạm hành chính. Quá trình thụ lý giải quyết và tại phiên họp, Tòa án đã thực hiện đúng theo các qui định của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Do Lê Ngọc T1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, đã được cơ quan có thẩm quyền xác định có nghiện ma tuý. Bản thân Lê Ngọc T1 đã thành niên, có nơi cư trú ổn định, từng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại phường do nghiện ma túy nhưng vẫn còn nghiện nên việc Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là phù hợp. Đề nghị Toà án chấp nhận theo lời đề nghị của Phòng L.

XÉT THẤY:

Do Lê Ngọc T1 hiện đang trong thời gian cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình, cộng đồng nhưng vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy và được cơ quan có thẩm quyền xác định có nghiện ma túy, loại Methamphetamine, nên bị Công an phường P lập Biên bản vi phạm hành chính về sử dụng trái phép chất ma túy và Ủy ban nhân dân phường P lập Biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma tuý và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Việc lập biên bản của Công an và Ủy ban nhân dân phường P đối với Lê Ngọc T1 là phù hợp theo Điều 58 của Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 6 Nghị định 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma tuý; Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma tuý và quản lý sau cai nghiện ma tuý. Do đó, Ủy ban nhân dân phường P quyết định lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa Lê Ngọc T1 vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là phù hợp theo quy định tại các Điều 95, 96 và 103 của Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 32 Luật Phòng chống ma tuý năm 2021; Điều 33, Điều 40, Điều 41 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma tuý; Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma tuý và quản lý sau cai nghiện ma tuý.

Lê Ngọc T1 bị lập biên bản vi phạm vào ngày 26/11/2024, tính đến ngày Toà án mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa Lê Ngọc T1 vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là còn trong thời hiệu, theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Lê Ngọc T1 là nghiêm trọng, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, là nguyên nhân dẫn đến tội phạm và làm ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Bản thân Lê Ngọc T1 đã sử dụng ma túy từ năm 2016, hiện đang trong thời gian cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình, cộng đồng nhưng vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy; do đó, cần thiết phải đưa Lê Ngọc T1 vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để tạo điều kiện cho Lê Ngọc T1 cai nghiện, lao động và học tập một thời gian, để sau khi cai nghiện được hòa nhập cộng đồng, làm người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Tình tiết tăng nặng: 02 tiền án về tội trộm cắp tài sản.

Tình tiết giảm nhẹ: Người vi phạm thành khẩn khai báo, thành thật hối lỗi quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Từ những phân tích trên, xét thấy đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc T1 thời hạn từ 15 tháng đến 18 tháng là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc T1.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Quyết định được công bố.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thành phố T; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ