vanban.org

Quyết định 04/QĐ-TA

TAND tỉnh Bến Tre Tuyên án 11/03/2022 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/03/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận khiếu nại yêu cầu cai nghiện ma túy tại gia đình hoặc giảm thời hạn đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc xuống còn 12 tháng của anh T.V.H.T. Giữ nguyên Quyết định số: 01/2022/QĐ-TA ngày 25/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm;

[1] Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: T.V.H.T, giới tính: nam; sinh năm 1995; nghề nghiệp: làm thuê; nơi cư trú: ấp R, xã H, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre; con ông T.V.C và bà P.T.L; Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm) tháng,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "T.V.H.T"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận khiếu nại yêu cầu cai nghiện ma túy tại gia đình hoặc giảm thời hạn đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc xuống còn 12 tháng của anh T.V.H.T. Giữ nguyên Quyết định số: 01/2022/QĐ-TA ngày 25/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm;
  • Căn cứ chính? Điều 35 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét; Điều 36 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét; Điều 95 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/QĐ-TABến Tre, ngày 11 tháng 3 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

Giải quyết khiếu nại

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

Thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Tôn Văn Thông

- Thư ký phiên họp: Ông Phan Trung Tín

Ngày 11 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre tiến hành phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại của anh T.V.H.T đối với Quyết định số: 01/2022/QĐ-TA ngày 25/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đối với:

Anh T.V.H.T (Đ); sinh năm: 1995; nơi cư trú: ấp R, xã H, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông T.V.C và bà P.T.L; tiền án: không; tiền sự: Tại Quyết định số: 10/QĐ-UBND ngày 11/01/2021 của Ủy ban nhân dân xã H, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre đã áp dụng biện pháp giáo dục tại xã thời hạn 03 tháng.

Anh T.V.H.T có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre: Ông Trần Văn Sung - Kiểm sát viên.

- Đại diện Cơ quan đề nghị: Ông Phạm Quốc Toàn - Phó Trưởng phòng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

NHẬN THẤY:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy: Anh T.V.H.T đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời hạn là 03 (ba) tháng kể từ ngày 11/01/2021 do nghiện ma túy theo Quyết định số 10/QĐ-UBND ngày 11/01/2021 của Ủy ban nhân dân xã H, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre và Quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình số 14/QĐ-UB ngày 14/01/2021 của Ủy ban nhân dân xã H, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre với thời gian là 06 tháng kể từ ngày quyết định có hiệu lực là ngày 22/01/2021. Tuy nhiên, sau khi đã chấp hành Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã và Quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình thì vào ngày 23/12/2021 anh T.V.H.T tiếp tục “sử dụng trái phép chất ma túy” nên Ủy ban nhân dân xã H tiến hành lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T.V.H.T.

Tại Văn bản số 69/ĐN-CNBB ngày 16/02/2022 của Trưởng phòng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm đề nghị Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T.V.H.T.

Tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số: 01/2022/QĐ-TA ngày 25/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, đã quyết định:

- Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T.V.H.T, sinh năm 1995; con ông T.V.C và bà P.T.L;

- Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc;

- Ngoài ra; Quyết định còn tuyên về hiệu lực thi hành, Cơ quan thi hành, quyền khiếu nại, kiến nghị và kháng nghị theo luật định.

Ngày 01/3/2022, anh T.V.H.T nộp đơn khiếu nại yêu cầu Tòa án cấp trên xem xét cho anh T.V.H.T cai nghiện tại gia đình, nếu không được chấp nhận thì yêu cầu giảm thời hạn đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 tháng, với lý do: bản thân là lao động chính trong gia đình, đang cùng vợ nuôi 03 con nhỏ, cha mẹ đều đã hơn 50 tuổi không còn đủ sức khỏe tạo ra thu nhập như trước.

Tại phiên họp xem xét khiếu nại:

- Anh T.V.H.T thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy và nghiện chất ma túy, việc anh tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy là sai, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm đề nghị và Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm quyết định đưa anh vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng. Tuy nhiên thời hạn đưa anh vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 15 tháng là quá nặng; anh yêu cầu được cai nghiện tại gia đình, nếu không được chấp nhận thì yêu cầu giảm thời hạn đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 tháng, với lý do: bản thân là lao động chính trong gia đình, đang cùng vợ nuôi 03 con nhỏ, cha mẹ đều đã hơn 50 tuổi không còn đủ sức khỏe tạo ra thu nhập như trước.

- Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm tham gia phiên họp phát biểu ý kiến: đề nghị Chủ tọa phiên họp không chấp nhận khiếu nại của anh T.V.H.T, giữ nguyên Quyết định số: 01/2022/QĐ-TA ngày 25/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm.

- Kiểm sát viên tham gia phiên họp phát biểu quan điểm giải quyết khiếu nại: từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp thì Tòa án, Thẩm phán đã thực hiện đúng các thủ tục giải quyết khiếu nại theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân (gọi tắt là Pháp lệnh số: 09/2014/UBTVQH13). Căn cứ vào khoản 1 Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ thì anh T.V.H.T là người trên 18 tuổi, có nơi cư trú ổn định, đã chấp hành xong Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã do nghiện ma túy mà anh T.V.H.T vẫn còn nghiện, do đó anh T.V.H.T thuộc đối tượng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Theo nội dung đơn khiếu nại của anh T.V.H.T yêu cầu xem xét không áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; trường hợp bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì yêu cầu giảm thời hạn xuống còn 12 tháng, với lý do: bản thân là lao động chính trong gia đình, đang cùng vợ nuôi 03 con nhỏ, cha mẹ đều đã hơn 50 tuổi không còn đủ sức khỏe tạo ra thu nhập như trước. Xét thấy lý do anh T.V.H.T đưa ra không thuộc trường hợp không áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 2 Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Căn cứ vào khoản 1 Điều 35 của Pháp lệnh số: 09/2014/UBTVQH13, đề nghị Chủ tọa phiên họp không chấp nhận khiếu nại của anh T.V.H.T, giữ nguyên Quyết định số: 01/2022/QĐ-TA ngày 25/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T.V.H.T thời hạn 15 tháng.

XÉT THẤY:

Qua lời trình bày của người khiếu nại kết hợp các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ, có cơ sở xác định:

[1] Anh T.V.H.T có sử dụng trái phép chất ma túy và nghiện chất ma túy, loại Methamphetamine; bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, bị cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình nhưng anh T.V.H.T vẫn không từ bỏ được việc sử dụng trái phép chất ma túy nên đã bị lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thuộc trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ. Với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, kết quả xét nghiệm nghiện chất ma túy, nhân thân và trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T.V.H.T. Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre đã mở phiên họp và quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T.V.H.T là có cơ sở.

[2] Xét khiếu nại của anh T.V.H.T yêu cầu được cai nghiện ma túy tại gia đình, nếu không được chấp nhận thì yêu cầu giảm thời hạn đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc xuống còn 12 tháng, thấy rằng:

Khi quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T.V.H.T, Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm đã xem xét anh T.V.H.T là người trên 18 tuổi, có nơi cư trú ổn định, biết rõ chất ma túy là chất độc hại, việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã xâm phạm đến chủ trương, chính sách của Nhà nước về bài trừ tệ nạn ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an trên địa bàn khu dân cư, anh T.V.H.T từng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy và nghiện chất ma túy; đã quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T.V.H.T thời hạn 15 tháng;

Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét thấy anh T.V.H.T bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã; bị cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình nhưng vẫn không từ bỏ được việc sử dụng trái phép chất ma túy và vẫn nghiện chất ma túy. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và nghiện chất ma túy của anh T.V.H.T thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 95, khoản 1 Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ. Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm đã quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T.V.H.T với thời hạn 15 tháng là có căn cứ pháp luật; phù hợp với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nhân thân của anh T.V.H.T. Tại phiên họp giải quyết khiếu nại của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre, anh T.V.H.T không có tình tiết giảm nhẹ mới. Xét thấy khiếu nại của anh T.V.H.T yêu cầu được cai nghiện ma túy tại gia đình, nếu không được chấp nhận thì yêu cầu giảm thời hạn đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc xuống còn 12 tháng là không có cơ sở, nên không được Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre chấp nhận.

[3] Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm và Kiểm sát viên đề nghị không chấp nhận khiếu nại của anh T.V.H.T, giữ nguyên Quyết định số: 01/2022/QĐ-TA ngày 25/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm là phù hợp, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 35; Điều 36 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

Áp dụng Điều 95; khoản 1 Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm hành chính;

Không chấp nhận khiếu nại yêu cầu cai nghiện ma túy tại gia đình hoặc giảm thời hạn đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc xuống còn 12 tháng của anh T.V.H.T. Giữ nguyên Quyết định số: 01/2022/QĐ-TA ngày 25/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm;

[1] Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: T.V.H.T, giới tính: nam; sinh năm 1995; nghề nghiệp: làm thuê; nơi cư trú: ấp R, xã H, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre; con ông T.V.C và bà P.T.L;

Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Địa điểm chấp hành: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bến Tre (địa chỉ: ấp Tân An, xã Tân Xuân, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre).

[2] Công an huyện Giồng Trôm; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm; Cơ sở cai nghiện ma túy có trách nhiệm thi hành quyết định này.

[3] Quyết định này là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành ngay.

Cỡ chữ