vanban.org

Quyết định 04/QĐ-TA

TAND huyện U Minh, tỉnh Cà Mau Tuyên án 28/05/2018 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn H.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (Mười hai) tháng, kể từ ngày 24 tháng 4 năm 2018. Người bị đề nghị Nguyễn Văn H có quyền khiếu nại, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện M có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 ngà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc."
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN U MINH
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/QĐ-TAU Minh, ngày 28 tháng 5 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU

Thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Dương Minh Út

2. Thư ký phiên họp: Ông Võ Đà Lạl là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

Trong ngày 28 tháng 5 năm 2018, tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Cà Mau tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 03/QĐ-TA ngày 04 tháng 5 năm 2018, đối với:

Họ và tên: Nguyễn Văn H; Giới tính: Nam. Sinh ngày 06-10-1997

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Ấp M, xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

Nơi cư trú: Không có nơi cư trú ổn định. Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Sửa xe. Tiền án, tiền sự: Không; Con ông Nguyễn Văn N và bà Lê Thị T.

Người bị đề nghị Nguyễn Văn H có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện hợp pháp của cơ quan đề nghị: Bà Lê Ngọc K là Phó Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện M, tỉnh Cà Mau (Theo văn bản ủy quyền số 14/TB-LĐTBXH, ngày 28-5-2018 của bà Ngô Thị B - Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện M).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau tham gia phiên họp: Ông Lê Quốc Nin - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 20-4-2018, Công an xã K, huyện M phát hiện Nguyễn Văn H có biểu hiện sử dụng chất ma túy. Qua kết quả xét nghiệm: Đối tượng dương tính với ma túy (Loại ma túy đá) và H thừa nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy 03 lần vào tháng 3-2018, ngày 02-4-2018 và ngày 19-4-2018 thì bị phát hiện qua thử test nhanh chất ma túy. Kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 20-4-2018, kết luận: Nguyễn Văn H đã nghiện ma túy. Quá trình lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc xác định đối tượng H không có nơi cư trú ổn định.

Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện M đề nghị: Nguyễn Văn H đã sử dụng trái phép chất ma túy nhiều lần, hiện nay không có chỗ ở ổn định. Nay đề nghị Tòa án nhân dân huyện U Minh xem xét, áp dụng biện pháp đưa H vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 12 tháng đến 18 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh phát biểu ý kiến: Về trình tự lập hồ sơ đề nghị đúng theo quy định Luật xử lý vi phạm hành chính và Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20 tháng 01 năm 2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Ý kiến của Viện kiểm sát về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Thống nhất với đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện M áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn H.

Tại phiên họp, Nguyễn Văn H thừa nhận hành vi sử dụng chất ma túy là vi phạm pháp luật; xác định trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng quy định pháp luật nhưng yêu cầu xem xét giảm nhẹ thời hạn là 12 tháng.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ; đề nghị của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện M; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và đối tượng bị đề nghị tại phiên họp.

XÉT THẤY:

Về thời hiệu xử lý vi phạm hành chính: Ngày 20-4-2018, Công an xã K, huyện M phát hiện Nguyễn Văn H sử dụng trái phép chất ma túy dạng ma túy đá và lập biên bản về hành vi vi phạm hành chính; đồng thời lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nên căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính thì thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn H vẫn còn.

Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 103, 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 8 của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2013; khoản 3 Điều 1 của Nghị định 136/2016/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 09 tháng 9 năm 2016, về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Tại thời điểm lập hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Nguyễn Văn H có nơi đăng ký nhân khẩu thường trú tại xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Qua xác minh, Công an xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu xác định: H đã bỏ địa phương từ tháng 8 năm 2017 đến nay không rõ nơi đến; từ tháng 8 năm 2017 cho đến ngày lập hồ sơ sống lang thang tại ấp 3, xã K, huyện M. Như vậy, có đầy đủ căn cứ khẳng định đối tượng không có nơi cư trú ổn định.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi: Vào ngày 19-4-2018, Nguyễn Văn H sử dụng trái phép chất ma túy (loại ma túy đá), đến ngày 20-4-2018 bị Công an xã K, huyện M phát hiện. Qua làm việc, H thừa nhận đã sử dụng trái phép chất ma túy 03 lần vào thời điểm tháng 3-2018, ngày 02-4-2018 và ngày 19-4-2018; lời thừa nhận của H phù hợp với kết quả xét nghiệm tình trạng nghiện ma túy ngày 20-4-2018 và phù hợp với các tài liệu có tại hồ sơ. Tại thời điểm sử dụng ma túy, H đã đủ 18 tuổi có đầy đủ năng lực trách nhiệm hành chính, có đầy đủ khả năng nhận thức hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của việc sử dụng trái phép chất ma túy nhưng vẫn thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu về ma tuý của bản thân.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn H là nguy hiểm cho xã hội, đã tác động và gây khó khăn trong chính sách quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy; gây nguy hại đến tính mạng, sức khoẻ của con người và sức khỏe của chính bản thân H. Đồng thời, hành vi của H còn làm tăng số lượng người sử dụng trái phép chất ma tuý trên địa bàn huyện và ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương.

Từ các căn cứ nêu trên, xét thấy cần áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn H có thời hạn nhất định, nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, nhằm giáo dục giúp cho H có thời gian cai nghiện tốt để đảm bảo cho chính sức khỏe cho mình, khi trở về tái hòa nhập với cộng đồng trở thành công dân có ích cho xã hội.

Tuy nhiên, khi bị phát hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Nguyễn Văn H đã tự nguyện khai báo, hợp tác với cơ quan chức năng trong quá trình lập hồ sơ xử lý vi phạm hành chính; nhân thân chưa bị tiền án, tiền sự là các tình tiết giảm nhẹ khi quyết định thời hạn áp dụng biện pháp hành chính đối với H.

Như đã phân tích trên, xét đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện M và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, khoản 1 Điều 96 và điểm b khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn H.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (Mười hai) tháng, kể từ ngày 24 tháng 4 năm 2018.

3. Người bị đề nghị Nguyễn Văn H có quyền khiếu nại, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện M có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

Cỡ chữ