- Tranh chấp gì? "Siu S bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Siu S.
- Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH G | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 04/QĐ-TA | C, ngày 02 tháng 8 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH G
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Nay Lu Vinh.
2. Thư ký phiên họp: Ông Đinh Thành Long.
Ngày 02 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh G tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 04/QĐ-TA ngày 25 tháng 7 năm 2024, đối với:
Họ và tên: Siu S; giới tính: Nam;
Sinh ngày 25 tháng 10 năm 1996;
Căn cước công dân số: 064096013330; nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về Trật tự xã hội - Bộ Công an;
Dân tộc: Jrai;
Tôn giáo: Không;
Trình độ văn hóa: 3/12;
Nguyên quán: Huyện C, tỉnh G;
Hộ khẩu thường trú: Làng Yon Tok, xã Ia Glai, huyện Chư Sê, tỉnh G;
Chỗ ở: Không có chỗ ở ổn định;
Nghề nghiệp: Không;
Tiền án, tiền sự: Không;
Con ông: Rmah Wưn, sinh năm 1979 và bà: Siu H’Oen, sinh năm 1981;
Vắng mặt và có đơn xin giải quyết vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Như Trường - Chức vụ: Phó Trưởng phòng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C, tỉnh G.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh G: Ông Nguyễn Minh Trí - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Theo hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Siu S thể hiện:
Siu S bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2020. Loại ma túy mà Siu S sử dụng trái phép là Heroine, hình thức sử dụng là hòa ma túy với nước sau đó dùng bơm kim tiêm chích ma túy trực tiếp vào cơ thể. Tần suất mà Siu S sử dụng trái phép ma túy là 6-7 lần/tuần. Lần gần nhất Siu S sử dụng trái phép ma túy là ngày 24/6/2024. Tại Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy số 01/PXĐ-TYT ngày 28/6/2024 của Trạm Y tế xã Ia Le đã kết luận Siu S có nghiện ma túy (BL số 7). Sau khi có kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Siu S, Công an xã Ia Le đã thông báo cho Siu S về việc tự nguyện đăng ký cai nghiện ma túy nhưng Siu S không tự nguyện đăng ký cai nghiện ma túy (BL số 15). Do đó Công an xã Ia Le và UBND xã Ia Le đã phối hợp lập hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Siu S.
Tại Văn bản đề nghị số 06/ĐN-CNBB ngày 05/7/2024 của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C, tỉnh G đã đề nghị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh G xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Siu S.
Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C, tỉnh G đề nghị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh G xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Siu S với thời hạn18 tháng.
Ý kiến của Kiểm sát viên: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính được đảm bảo theo đúng trình tự, thủ tục của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ, đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C, tỉnh G, xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Siu S với thời hạn từ 15 đến 18 tháng.
Tại Biên bản làm việc ngày 26/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh G, Siu S đồng ý hành vi vi phạm theo tài liệu có trong hồ sơ và đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để Su S có điều kiện cai nghiện ma túy.
XÉT THẤY:
Về tài liệu và tính hợp pháp của hồ sơ: Tài liệu trong hồ sơ đầy đủ, đảm bảo theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020 (Luật Xử lý vi phạm hành chính). Hồ sơ được lập đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều 103 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
[2] Về thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Siu S có hành vi sử dụng ma túy lần gần nhất vào ngày 24/6/2024 và bị Công an xã Ia Le lập Biên bản vi phạm số 04/BB-VPHC ngày 28/6/2024. Tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định “Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 03 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 96 của Luật này”. Như vậy thời hiệu xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Siu S vẫn còn.
Về đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C, tỉnh G: Siu S là đối tượng sử dụng ma túy từ năm 2020. Ngày 24/6/2024 Siu S có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Theo Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy số 01/PXĐ-TYT ngày 28/6/2024 của Trạm Y tế xã Ia Le thì Siu S có nghiện ma túy. Công an xã Ia Le đã thông báo nhưng Siu S không tự nguyện đăng ký cai nghiện ma túy. Tại khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là “Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy”. Tại khoản 1 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy năm 2021 (Luật Phòng, chống ma túy) quy định đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là “Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên ... thuộc một trong các trường hợp sau đây: 1. Không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện”. Siu S là người đủ 18 tuổi, nghiện ma túy nhưng không đăng ký cai nghiện ma tuý tự nguyện nên là đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Do đó, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C, tỉnh G đề nghị Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Siu S là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Siu S không có tình tiết tăng nặng, đã “tự nguyện khai báo” nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Căn cứ vào các Điều 6, 7, 9, 95, 96, 103, 104, 105, 107, 108 và 110 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020; Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy năm 2021; các Điều 3, 22, 23, 30 và 31 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Khóa 13 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân,
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Siu S.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C, tỉnh G có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh G có quyền kháng nghị Quyết định của Tòa án. Siu S có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện C, tỉnh G; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C, tỉnh G.
| Nơi nhận: - Người bị áp dụng; - VKSND huyện C; - Công an huyện C; - PLĐ-TB&XH huyện C; - CSTV&CNMT tỉnh G; - UBND xã Ia Le; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Nay Lu Vinh |