vanban.org

Quyết định 04/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Trung T.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định, Phòng lao động thương binh và xã hội huyện Châu T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Trung T.
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 12 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 17 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/QĐ-TAChâu Thành, ngày 31 tháng 10 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Đoàn Thị Thu Trang

2. Thư ký phiên họp: Nguyễn Phước Hậu

Ngày 31 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 04/QĐ-TA, ngày 21 tháng 10 năm 2024 đối với:

Họ và tên: Nguyễn Trung T, giới tính: nam, sinh ngày 27/07/1992.

CCCD số: 0840……..; ngày cấp: 13/3/2022; Nơi cấp: Cục trưởng Cục CSQLHC về TTXH.

Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 10/12.

Nguyên quán: huyện C, tỉnh T.

Hộ khẩu thường trú: ấp X, xã H, huyện C, tỉnh T.

Chổ ở hiện nay: ấp X, xã H, huyện C, tỉnh T.

Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Tiền án: không, Tiền sự: 02;

Con ông Nguyễn Văn T và bà Mai Thị Mộng T.

Vợ: Võ Thị Kiều T, con Nguyễn Ngọc T và Nguyễn Chí K.

Người bị đề nghị: Nguyễn Trung T (không có mặt tại phiên họp).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên họp: Ông Võ Thế Ân (có mặt).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Trường, kiểm sát viên (có mặt).

NHẬN THẤY:

Căn cứ vào hồ sơ thể hiện như sau:

Ngày 22/3/2024 Nguyễn Trung T đã thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy Methamphetamine tại khu đất trống thuộc xã H, huyện C, tỉnh T. Ngày 26/3/2024 Công an phường 7, thành phố T, tỉnh T phát hiện lập biên bản vi phạm hành chính, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 29/3/2024 Trưởng Công án phường 7 ra quyết định xử phạt hành chính số 23/QĐ-XPHC với số tiền 1.500.000 đồng.

Ngày 01/4/2024 Chủ tích Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh T ra Quyết định số 49/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy (theo Nghị định số 105/2021 NĐ-CP).

Ngày 30/9/2024 Nguyễn Trung T tiếp tục thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy Methamphetamine ở trong chồi phía sau nhà của T thuộc ấp X, xã H, huyện C, tỉnh T. Ngày 02/10/2024 Công an xã H tiến hành mời đến trụ sở kiểm tra chất ma túy trong cơ thể người với kết quả dương tính ma túy, phát hiện lập biên bản vi phạm hành chính, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 07/10/2024 Trưởng Công an xã H ra quyết định xử phạt hành chính số 24/QĐ-XPHC với số tiền 1.500.000 đồng.

Ngày 03/10/2024 Công an xã H đưa đi xác định tình trạng nghiện tại Trung tâm y tế huyện C, tỉnh T, kết luận Nguyễn Trung T nghiện ma túy (Methamphemine).

Ngày 07/10/2024 Ủy ban nhân dân xã H ra Quyết định dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đối với Nguyễn Trung T.

Nguyễn Trung T không đăng ký cai nghiện tự nguyện theo quy định điểm a, khoản 1, điều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Tại phiên họp:

- Ý kiến của ông Võ Thế Ân đại diện cơ quan đề nghị: Tóm tắt quá trình anh Nguyễn Trung T sử dụng trái phép chất ma túy và bị Công an phường 7, thành phố Trà Vinh và Công an xã Hòa Thuận xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy 02 lần mà Nguyễn Trung T chưa chấp hành. Theo kết luật của Trung tâm y tế huyện C, tỉnh T là anh T nghiện ma túy loại Methamphetamine. Căn cứ Nghị định 116/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Điều 95, 96 Luật xử lý vi phạm hành chính đề nghị đề nghị đưa anh Nguyễn Trung T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn từ 24 tháng để có thời gian cho anh T cai nghiện ma túy.

- Theo lời khai của anh Nguyễn Trung T trong hồ sơ trình bày: Tại các bản tường trình thì anh Nguyễn Trung T thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma

2

túy đá vào ngày 22/3/2024 và ngày 30/9/2024. Anh T thừa nhận có bị xử phạt hành chính 02 lần về hành vi sử dụng ma túy của Công an xã Phường 7, thành phố T và Công an xã H và từ chối đăng ký cai nghiện tự nguyện. Theo phiếu kết quả ngày 03/10/2024 của Trung Tâm y tế huyện C, tỉnh T kết luận Nguyễn Trung T nghiện ma túy Methamphetamine.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Thư ký từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp hôm nay đã thực hiện đúng quy định của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, giải quyết áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân được quy định tại Điều 3, Điều 7, Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 11, Điều 12, Điều 14, Điều 17, Điều 20 của Pháp lệnh 09 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án.

Về nội dung vụ việc thì vị đại diện Viện kiểm sát nhận định:

Anh Nguyễn Trung T là người nghiện ma túy, có nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy, đã xử phạt hành chính nhưng vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy và không đăng ký cai nghiện tự nguyện. Vì vậy, đề nghị áp dụng Điều 6, Điều 95, Điều 96, Điều 103, Điều 104, Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính; Áp dụng Điều 28, 32 Luật phòng chống ma túy; Áp dụng các Điều 7, Điều 8, Điều 12, Điều 17 của pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15, ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng thời gian đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Trung T là từ 18 đến 24 tháng.

XÉT THẤY:

Về tính hợp pháp của hồ sơ:

Người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng đối tượng được quy định tại khoản 1 Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị là còn trong thời hiệu được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc được thực hiện đúng quy định tại Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính. Hồ sơ đề nghị có đầy đủ các tài liệu, giấy tờ đúng quy định.

Nội dung đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị:

Căn cứ các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ cũng như tại các bản tường trình anh Nguyễn Trung T thừa nhận bản thân đã sử dụng trái phép chất ma túy (loại Methamphetamine) vào ngày 22/3/2024 bị Công an phường 7, thành phố T xử phạt về hành vi xử dụng trái phép chất ma túy. Đến ngày 30/9/2024 tiếp tục

3

sử dụng trái phép chất ma túy và Công an xã H tiếp tục xử phạt Nguyễn Trung T sử dụng trái phép trái phép chất ma túy. Ngày 03/10/2024 Trung tâm y tế huyện C trả kết quả anh Nguyễn Trung T nghiện ma túy chất Methamphetamine.

Tại bản tường trình ngày 09/10/2024 Nguyễn Trung T thừa nhận có sử dụng ma túy đá và không đăng ký tự nguyện cai nghiên. Hành vi vi phạm hành chính của anh Nguyễn Trung T đã đủ điều kiện áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc được quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Xét đề nghị của Phòng Lao động thương binh và xã hội thì qua kiểm tra hồ sơ đối tượng Nguyễn Trung T nghiện ma túy đã trên 18 tuổi, có nơi cư trú ổn định, đã bị xử phạt hành chính nhưng anh Nguyễn Trung T vẫn có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đã vi phạm Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính. Vì vậy, xét thấy đủ cơ sở để áp dụng biện pháp xử lý hành chính là đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T tạo điều kiện cho anh T cai nghiện và học nghề cũng như giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát là có cơ sở để chấp nhận.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Về tình tiết tăng nặng: không có. Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình lập hồ sơ, làm việc với Công an thì anh Nguyễn Trung T tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Vì các lẽ trên:

Căn cứ Điều 28, Điều 32 Luật phòng chống ma túy;

Căn cứ Điều 95, Điều 96 và khoản 2 Điều 9; khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính;

Căn cứ Điều 7, Điều 8, Điều 12, Điều 17, Điều 18, Điều 19, Điều 20, Điều 24 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Trung T.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định, Phòng lao động thương binh và xã hội huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh có quyền kháng nghị quyết định này. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định anh Nguyễn Trung T có quyền khiếu nại quyết định này.

4

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị, mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng lao động thương binh và xã hội huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh và Công an huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

Cỡ chữ