- Tranh chấp gì? "Nông V T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Văn T; sinh năm 1995.
- Căn cứ chính? Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH HÀ GIANG Số: 04/QĐ - TA | Bắc Mê, ngày 07 tháng 4 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Dương Văn Công.
2. Thư ký phiên họp: Ông Trần Xuân Đạt.
Ngày 07 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Giang tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 04/QĐ-TA ngày 03 tháng 4 năm 2023 đối với:
Họ và tên: Nông Văn T; giới tính: Nam; sinh năm 1995; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 10/12.
Nguyên quán: xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang.
Hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang.
Chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang.
Nghề nghiệp: Làm ruộng; tiền án, tiền sự: không.
Con ông: Nông Thanh T, sinh năm 1975 và con bà Tô Thị Y, sinh năm 1974. (Vắng mặt có lý do).
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng lao động - Thương binh và Xã hội huyện B, tỉnh Hà Giang; bà Nguyễn Hoài Linh; chức vụ: Phó Trưởng Phòng.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B: Bà Nguyễn Thị Phương - Kiểm sát viên.
3. Đại diện UBND xã Y, huyện B; Ông Hoàng Văn Tiến; chức vụ: Phó Chủ tịch UBND xã Y.
NHẬN THẤY
Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ nhận thấy: Ngày 23/3/2023 Công an xã Y lập biên bản Vi phạm hành chính đối tượng Nông Văn T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 17/3/2023, đồng thời Nông Văn T viết bản tường trình và biên bản ghi lời khai đã thừa nhận mua ma túy 01 gói ma túy của người lạ mặt ở huyện B, tỉnh Cao Bằng không biết tên, tuổi, địa chỉ, loại ma túy Heroine với số tiền 100.000 đồng, sau đó sử dụng hết tại lều nương ven đường QL34 thuộc Thôn N, xã Y, hình thức chích, tần suất sử dụng 03 lần/tuần. Thời gian sử dụng ma túy từ năm 2021 sau đó tham gia điều trị cai nghiện uống thuốc Methadone tại Trung tâm y tế huyện B và tự ý bỏ không uống thuốc Methadone, tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy.
Ngày 22/3/2023 Công an xã Y phối hợp với Trạm y tế xã Y lấy mẫu nước tiểu, phiếu xét nghiệm chất ma túy Nông Văn T dương tính chất ma túy.
Ngày 23/3/2023 Phiếu trả lời kết quả của Trạm y tế xã Y, huyện B xác định tình trạng nghiện Nông Văn T có nghiện ma túy loại ma túy Heroine.
Ngày 24/3/2023 Công an xã Y, huyện B giao Nông Văn T cho Cơ sở chăm sóc và phục hồi chức năng người tâm thần - Cai nghiện ma túy tỉnh Hà Giang để quản lý trong thời gian lập hồ sơ theo quyết định số 17/QĐ-QLNN ngày 24/3/2023 của Chủ tịch UBND xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang.
Ngày 27/3/2023 Công an xã Y thông báo số 03/TB-CAX về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Văn T.
Tại văn bản số 02/ĐN-CNBB ngày 29/3/2023 của Chủ tịch UBND xã Y, huyện B đề nghị xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Văn T.
Ngày 29/3/2023 trưởng Phòng Lao động thương binh và Xã hội huyện B, tỉnh Hà Giang ban hành văn bản số 50/LĐTBXH đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối tượng Nông Văn T.
Ngày 04/4/2023 Nông Văn T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ.
Tại phiên họp đại diện Phòng Lao động thương binh và Xã hội B, phát biểu ý kiến đề nghị đưa Nông Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian từ 18 tháng đến 24 tháng.
Đại diện UBND xã Y nơi lập hồ sơ ý kiến: Đối với Nông Văn T sử dụng ma túy trên địa bàn từ năm 2021, thường xuyên vắng mặt tại địa phương, có mối quan hệ phức tạp ngoài xã hội, Công an xã đã phối hợp cơ quan chức năng kiểm tra xét nghiệm đối tượng nghiện ma túy. Nay đề nghị đưa Nông Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 18 tháng mới đủ thời gian cai nghiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân B tham gia phiên họp phát biểu ý kiến việc tuân theo pháp luật của Tòa án, cơ quan lập hồ sơ và cơ quan đề nghị trong quá trình lập hồ sơ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính là đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định.
Tại phiên họp Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật; người tham gia phiên họp đã chấp hành đúng quy định. Căn cứ Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2020; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Luật, phòng chống ma túy; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
Đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động thương binh và Xã hội huyện B, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Văn T, thời hạn từ 16 tháng đến 18 tháng.
XÉT THẤY
Sau khi nghiên cứu hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án, ý kiến của cơ quan đề nghị, UBND xã Y nơi lập hồ sơ và ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê có đủ căn cứ để xác định.
. Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 6, 95, 96, 103, 104, 107 và Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2020; Điều 32 Luật, phòng chống ma túy năm 2021; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
. Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ Nông Văn T tại bản tường trình, biên bản ghi lời khai đã thừa nhận sử dụng ma túy từ năm 2021 bằng hình thức chích, lần gần nhất ngày 17/3/2023. Nông Văn T là người nghiện ma túy tự ý chấm dứt điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế … đã vi phạm khoản 3 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy và Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy. Vì vậy việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Nông Văn T đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là phù hợp theo quy định tại Điều 95 và khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Về tình tiết tăng nặng Nông Văn T không có tình tiết tăng nặng; về tình tiết giảm nhẹ trong quá trình lập hồ sơ đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi về hành vi vi phạm của mình nên cần áp dụng khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2020 để xem xét giảm nhẹ khi áp dụng.
. Xét về nhân thân Nông Văn T: Không có tiền án, tiền sự, bản thân nhận thức được việc sử dụng trái phép chất ma túy có hại cho sức khỏe con người nhưng vẫn cố tình sử dụng chất ma túy, là người nghiện ma túy đã được điều trị uống thuốc Methadone nhưng lại tự ý chấm dứt điều trị nghiện bằng thuốc thay thế và vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy gần nhất ngày 17/3/2023. Vì vậy, việc áp dụng xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Văn T là cần thiết, để giúp người bị đề nghị áp dụng biện pháp hành chính được chữa bệnh, lao động, học nghề và sinh hoạt dưới sự quản lý giáo dục của cơ sở cai nghiện bắt buộc.
. Tại phiên họp đại diện cơ quan đề nghị và Kiểm sát viên đề nghị là có căn cứ, phù hợp nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 6, khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, điểm a khoản 1 Điều 103, khoản 2 Điều 105, khoản 1 Điều 110, 119, 131 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020; Luật, phòng chống ma túy năm 2021; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Văn T; sinh năm 1995.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 17 (Mười bẩy) tháng, kể từ ngày 24/3/2023. Nơi chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là: Cơ sở chăm sóc và phục hồi chức năng người tâm thần - Cai nghiện ma túy tỉnh Hà Giang; địa chỉ: Thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Hà Giang.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định:
- Nông Văn T vắng mặt tại phiên họp có quyền khiếu nại quyết định thời hạn 05 (Năm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án,
- Phòng Lao động thương binh và Xã hội huyện B có quyền kiến nghị quyết định thời hạn 05 (Năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
- Viện kiểm sát nhân dân huyện B có quyền kháng nghị quyết định thời hạn 05 (Năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
| Nơi nhận: - Người bị đề nghị; - Trưởng Công an huyện B; - Trưởng phòng LĐTB&XH huyện B; - VKSND huyện B; - UBND xã Y; - Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Hà Giang; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN (Đã ký) Dương Văn Công |