vanban.org

Quyết định 04/2026/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim T.

Tuyên bố ông Đặng Huy B, sinh ngày 04-10-1959; số chứng minh nhân dân: xxxxxxxx; nơi cư trú cuối cùng: Số v đường x, phường y, tỉnh z (nay là địa chỉ: Số v đường x, phường y, tỉnh z) mất tích. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị Kim T được miễn lệ phí giải quyết việc dân sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Nguyễn Thị Kim T - Đặng Huy B"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim T.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 - NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2026/QĐST-VDSNinh Bình, ngày 04 tháng 3 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - NINH BÌNH

Thành phần giải quyết việc dân sự:

Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Minh Tuấn - Thẩm phán.

Thư ký phiên họp: Bà Đinh Thị Thanh Hương - Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình tham gia phiên họp: Bà Phạm Hải Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 3 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình mở phiên họp công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 04/2025/TLST-VDS ngày 10 tháng 10 năm 2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 03/2026/QĐST-VDS ngày 12 tháng 02 năm 2026.

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh ngày 08-6-1964; số căn cước công dân: xxxxxxxxxx; nơi đăng ký thường trú: Số 35C đường x, phường y, tỉnh z; nơi cư trú: Số 35C đường x, phường y, tỉnh z. Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

- Người bị yêu cầu: Ông Đặng Huy B, sinh ngày 04-10-1959; số chứng minh nhân dân: xxxxxxxx; nơi cư trú cuối cùng: Số v đường x, phường y, tỉnh z (địa chỉ cũ: Số v đường x, phường y, tỉnh z). Vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

1. Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và biên bản lấy lời khai ngày 15-10-2025, người yêu cầu giải quyết việc dân sự là bà Nguyễn Thị Kim T trình bày: Bà và ông Đặng Huy B là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố Đ, tỉnh H (cũ) vào ngày 28-11-1986. Vợ chồng có hai con chung là chị Đặng Kim L, sinh ngày 06-10-1987 và anh Đặng Huy Đ, sinh ngày 10-10-1994, Cả hai con chung đều đã trưởng thành, hiện đang sinh sống ở nước ngoài, không rõ địa chỉ cụ thể

Sau khi kết hôn, bà và ông Đặng Huy B chung sống tại địa chỉ: ở địa chỉ: Số 22C đường x, phường y, tỉnh z (nay là số nhà 35C đường x, phường y, tỉnh z). Sau khi bà và ông Đặng Huy B kết hôn thì cũng ở địa chỉ nói trên cùng với bố mẹ ông Đặng Huy B. Đến năm 1992, vợ chồng bà mua nhà riêng tại địa chỉ: Số v đường x, phường y, tỉnh z (nay là địa chỉ: Số v đường x, phường y, tỉnh z) và chuyển toàn bộ hộ khẩu gia đình về địa chỉ này. Ông Đặng Huy B đã ở đây cho đến khi đi nước ngoài vào năm 1998.

Ông Đặng Huy B trước đây làm công nhân tại Xí nghiệp cơ khí N, đến năm 1995 thì ông Đặng Huy B chuyển sang làm công nhân tại Xí nghiệp May xuất khẩu N. Đến năm 1998 thì ông Đặng Huy B bỏ việc và đi nước ngoài. Bà không biết ông Đặng Huy B đi nước ngoài theo hình thức nào, nhưng không phải thuộc diện xuất khẩu lao động vì trước đó ông Đặng Huy B đã tự ý bỏ việc. Bà cũng không biết chính xác ông Đặng Huy B đi sang nước nào, nhưng có nghe ông Đặng Huy B nói là sẽ đi sang Tiệp Khắc, còn sau đó ông Đặng Huy B sẽ đi tiếp sang nước nào khác thì bà không biết.

Sau khi đi nước ngoài, thời gian đầu ông Đặng Huy B có thỉnh thoảng viết thư liên lạc với gia đình. Tuy nhiên, ông Đặng Huy B cũng giấu không nói cho bà và gia đình biết là hiện đang sinh sống ở đâu, làm gì, chỉ khi ông Đặng Huy B chủ động liên hệ hoặc tự về Việt Nam thì mọi người mới biết. Những khi về Việt Nam thì ông Đặng Huy B thường ở nhà anh chị em ruột mỗi nhà vài ngày, không về căn nhà của vợ chồng ở tập thể V. Lần cuối bà biết được ông Đặng Huy B về Việt Nam thăm nhà là vào năm 2019, nhưng không nhớ ngày tháng chính xác. Từ đó ông Đặng Huy B không về nhà thêm lần nào nữa. Cũng kể từ thời điểm đó, bà và những người thân thích không ai gặp ông Đặng Huy B nữa, cũng không ai biết thêm thông tin gì khác về ông Đặng Huy B.

Kể từ khi ông Đặng Huy B đi nước ngoài thì luôn cố tình giấu bà và người thân trong gia đình về thông tin nơi cư trú và công việc của mình nên bà và người thân cũng không hỏi thêm, không tìm kiếm về thông tin của ông Đặng Huy B. Trước khi làm đơn yêu cầu tuyên bố ông Đặng Huy B là người mất tích, bà cũng đã hỏi nhưng không ai trong gia đình biết được thông tin liên lạc và địa chỉ cư trú hiện tại của ông Đặng Huy B.

Hiện tại, bà Nguyễn Thị Kim T yêu cầu Toà án tuyên bố ông Đặng Huy B là người mất tích; không yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết về việc quản lý tài sản của người mất tích.

2. Tại biên bản lấy lời khai ngày 15-10-2025, người làm chứng là ông Đặng Huy Huyên trình bày: Ông là anh trai của ông Đặng Huy B. Ông Đặng Huy B có vợ là bà Nguyễn Thị Kim T và có 02 con chung là chị Đặng Kim Loan, sinh năm 1987 và anh Đặng Huy Đạt, sinh năm 1994, đều hiện đang sinh sống ở nước ngoài, không rõ địa chỉ cụ thể. Vợ chồng ông Đặng Huy B trước đây cư trú tại địa chỉ: Số v đường x, phường y, tỉnh z (nay là địa chỉ: Số v đường x, phường y, tỉnh z) cho đến khi ông Đặng Huy B đi nước ngoài vào khoảng năm 1998.

Ông và người thân trong gia đình không biết ông Đặng Huy B đi nước ngoài theo hình thức nào, đi sang nước nào. Sau khi đã đi nước ngoài, ông Đặng Huy B chỉ thông qua người quen nhắn tin với gia đình là vẫn khỏe mạnh, nhưng không nói cho người thân trong gia đình biết là đang sinh sống ở đâu, làm gì. Kể cả khi bố mẹ ông còn sống, ông Đặng Huy B cũng không bao giờ gọi điện, liên lạc hỏi thăm. Ông Đặng Huy B cũng rất hiếm khi về Việt Nam, nếu về Việt Nam thì ông Đặng Huy B thường ở nhà họ hàng hoặc bạn bè riêng, mỗi nhà một vài ngày. Khi mẹ ông chết năm 2009 và bố ông chết năm 2010 thì ông Đặng Huy B cũng không về chịu tang.

Lần cuối cùng ông Đặng Huy B về Việt Nam là khoảng năm 2020. Kể từ thời điểm đó cho đến nay, ông và những người thân thích không ai gặp ông Đặng Huy B, không ai biết thêm thông tin gì khác về ông Đặng Huy B. Ông Đặng Huy B cũng không có lần nào chủ động liên hệ với những người thân thích trong gia đình nữa.

3. Tại công văn số 22249/QLXNC-P3 ngày 23-10-2025 của Cục Quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an cung cấp thông tin: Ông Đặng Huy B, sinh ngày 04-10-1959, hộ chiếu số N185xxx có lần xuất cảnh gần nhất ngày 13-02-2023 qua Cửa khẩu Nội Bài, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.

4. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim T, Tòa án đã đăng thông báo tìm kiếm ông Đặng Huy B trên báo Công lý trong 3 số báo liên tiếp là số 86 ra ngày 24-10-2025, số 87 ra ngày 29-10-2025 và số 88 ra ngày 31-10-2025; nhắn tin tìm kiếm ông Đặng Huy B trên Đài tiếng nói Việt Nam trong 3 lần liên tiếp vào các ngày 24-10-2025, 25-10-2025 và 26-10-2025; đăng thông báo tìm kiếm ông Đặng Huy B trên Công thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao ngày 07-11-2025 và Cổng thông tin điện tử tỉnh Ninh Bình ngày 05-11-2025 nhưng ông Đặng Huy B không liên hệ và không đến Tòa án làm việc.

5. Tòa án đã tiến hành xác minh tại nơi cư trú cuối cùng của ông Đặng Huy B. Đại diện tổ dân phố số 13, phường T, tỉnh N xác nhận ông Đặng Huy B đã vắng mặt tại địa phương từ năm 1998 cho đến nay, không ai biết tin tức, địa chỉ. Từ năm 2006 gia đình bà Nguyễn Thị Kim T đã bán nhà, chuyển đi nơi khác sinh sống.

6. Tòa án đã tiến hành xác minh tại nơi có tài sản là nhà đất của ông Đặng Huy B. Đại diện tổ dân phố N, phường N, tỉnh N xác nhận ông Đặng Huy B đã đi nước ngoài từ lâu, không sinh sống tại địa phương. Lần cuối cùng ông Đặng Huy B về thăm nhà là khoảng năm 1999.

7. Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình phát biểu ý kiến của về việc giải quyết việc dân sự: Tòa án đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục giải quyết việc dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Tòa án căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015, tuyên bố ông Đặng Huy B mất tích. Bà Nguyễn Thị Kim T được miễn lệ phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 387 Bộ luật Tố tụng dân sự, bà Nguyễn Thị Kim T là vợ hợp pháp của ông Đặng Huy B nên được xác định là người có quyền, lợi ích liên quan và có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Đặng Huy B mất tích.

Xét thấy người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là ông Đặng Huy B có nơi cư trú cuối cùng tại địa chỉ: Số v đường x, phường y, tỉnh z (địa chỉ cũ: Số v đường x, phường y, tỉnh z) nên Tòa án nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình thụ lý, giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích của bà Nguyễn Thị Kim T là đúng quy định tại khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về giải quyết yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim T:

Bà Nguyễn Thị Kim T và ông Đặng Huy B là vợ chồng hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố N, tỉnh H (cũ) vào ngày 28-11-1986. Sau khi kết hôn, bà Nguyễn Thị Kim T và ông Đặng Huy B đã chung sống tại địa chỉ: Số v đường x, phường y, tỉnh z (nay là địa chỉ: Số v đường x, phường y, tỉnh z). Khoảng năm 1998, ông Đặng Huy B đã bỏ việc rồi đi ra nước ngoài. Sau khi đi nước ngoài, thỉnh thoảng ông Đặng Huy B có về Việt Nam thăm gia đình. Tuy nhiên ông Đặng Huy B giấu bà Nguyễn Thị Kim T và những người thân thích trong gia đình về thông tin liên hệ, công việc và nơi cư trú của mình. Kể từ năm 2020 thì bà Nguyễn Thị Kim T và những người thân thích không gặp ông Đặng Huy B thêm lần nào nữa.

Mặc dù bà Nguyễn Thị Kim T và những người thân thích không xác định được chính xác được ngày, tháng cuối cùng đã gặp ông Đặng Huy B, nhưng theo thông tin quản lý của Cục Quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an thì ông Đặng Huy B có lần xuất cảnh gần nhất ngày 13-02-2023 qua Cửa khẩu Nội Bài, hiện chưa có thông tin nhập cảnh nên Tòa án xác định đây là thời điểm có tin tức cuối cùng của ông Đặng Huy B. Như vậy, ông Đặng Huy B biệt tích đã trên 02 năm. Sau khi thụ lý việc dân sự, Tòa án đã xác minh tại nơi cư trú cuối cùng của ông Đặng Huy B, xác minh tại nơi có tài sản của ông Đặng Huy B và áp dụng các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng không có tin tức xác thực về việc ông Đặng Huy B còn sống hay đã chết. Vì vậy, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015, Tòa án sẽ chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim T về việc tuyên bố ông Đặng Huy B mất tích.

Về tài sản: Bà Nguyễn Thị Kim T trình bày vợ chồng chỉ có tài sản chung duy nhất là căn nhà Số v đường x, phường y, tỉnh z. Đây là nơi ở duy nhất của gia đình nên bà Nguyễn Thị Kim T không yêu cầu Tòa án giải quyết việc quản lý tài sản của ông Đặng Huy B.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị Kim T là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền lệ phí nên sẽ được miễn nộp lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 149, Điều 361, Điều 371, Điều 387, Điều 388, Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim T.

Tuyên bố ông Đặng Huy B, sinh ngày 04-10-1959; số chứng minh nhân dân: xxxxxxxx; nơi cư trú cuối cùng: Số v đường x, phường y, tỉnh z (nay là địa chỉ: Số v đường x, phường y, tỉnh z) mất tích.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị Kim T được miễn lệ phí giải quyết việc dân sự.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Bà Nguyễn Thị Kim T có quyền làm đơn kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ quyết định theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Đặng Huy B có quyền làm đơn kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày niêm yết quyết định.

Quyết định này có thể bị Viện kiểm sát kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ