vanban.org

Quyết định 04/2026/QĐST-DS — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Nguyễn Bái

2 Phục về việc xác định thửa đất số 1274, tờ bản đồ 17, diện tích 10.338m tại Khu phố A, 2 phường B, tỉnh Đồng Tháp và thửa đất số 1117, tờ bản đồ 17, diện tích 160m tại Khu phố A, phường B,tỉnh Đồng Tháp là thuộc quyền sử dụng của anh Đặng Văn T1. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Yêu cầu xác định phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để thi hành án"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Nguyễn Bái
  • Căn cứ chính? luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Luật tố tụng hành chính; Điều 11 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 4
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2026/QĐST-DSĐồng Tháp, ngày 06 tháng 02 năm 2026.

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Với thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Dương Thị Hằng Ni.

Thư ký phiên họp: Ông Cao Trần Khắc Huy – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên họp: Ông Phạm Trung Thái - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 70/2025/TLSTVDS ngày 27 tháng 02 năm 2025 về việc “Yêu cầu xác định phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để thi hành án”, theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số: 33/2026/QĐST-VDS ngày 22 tháng 01 năm 2026 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu: Anh Nguyễn C, sinh năm 1984.

Địa chỉ: Ấp A, xã T, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện theo ủy quyền của anh Phục: Bà Tạ Kim T, sinh năm 1963 (có

mặt).

Địa chỉ: 595/8 đường 3/2 khu phố 1, phường N, tỉnh Đồng Tháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Đặng Văn T, sinh năm 1963 (vắng mặt).

2. Bà Phạm Thị K, sinh năm 1960 (vắng mặt).

3. Anh Đặng Văn T1, sinh năm 1989 (vắng mặt).

4. Chị Đặng Thị Trúc N, sinh năm 1987 (vắng mặt).

5. Chị Nguyễn Thị Phương T2, sinh năm 1991 (vắng mặt).

6. Cháu Đặng Anh K, sinh năm 2013.

Người đại diện theo pháp luật của cháu Kiệt: Anh Đặng Văn T1 và chị

Nguyễn Thị Phương T2.

Cùngđịachỉ: Khuphố A, phườngB,tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự anh Nguyễn C có đại diện theo ủy quyền là bà Tạ Kim T trình bày: Anh Nguyễn C là nguyên đơn trong vụ án tranh chấp hợp đồng vay tiền với bị đơn anh Đặng Văn T1. Vụ án đã được Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang nay là Tòa án nhân dân khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp giải quyết bằng Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số: 75/2023/QĐST-DS ngày 09/11/2023. Theo quyết định trên, thì anh Đặng Văn T1 có nghĩa vụ trả cho anh Nguyễn C số tiền là 620.185.000 đồng, thời gian và phương thức thực hiện như sau: Trả số tiền 320.000.000 đồng vào ngày 21/11/2023; Trả số tiền 300.185.000 đồng vào ngày 11/12/2023. Sau đó, anh T2 không tự nguyện thi hành án nên anh Nguyễn C đã làm đơn yêu cầu thi hành án. Qua xác minh điều kiện thi hành án của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp xác định anh Nguyễn Văn T2 có tài sản là phần quyềnsử dụngđất chungđốivới:

2

+ Thửa đất số 1274, tờ bản đồ 17, diện tích 10.338m tại ấp Láng Biển, xã Mỹ Phước Tây, thịxã Cai Lậy,tỉnh Tiền Giangnay thuộc Khuphố A, phườngB,tỉnh Đồng Tháp;

2

+ Thửa đất số 1117, tờ bản đồ 17, diện tích 160m tại ấp Láng Biển, xã Mỹ Phước Tây, thịxã Cai Lậy,tỉnh TiềnGiangnay thuộc Khuphố A,phườngB,tỉnh Đồng Tháp;

2

+ Thửa đất số 1286, tờ bản đồ 17, diện tích 17.935m tại ấp Láng Biển, xã Mỹ Phước Tây, thịxã Cai Lậy,tỉnh Tiền Giangnay thuộc Khuphố A, phườngB,tỉnh Đồng Tháp;

2

+ Thửa đất số 1605, tờ bản đồ 17, diện tích 5.718m tại ấp B, xã B, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giangnay thuộckhu phốB,phườngB,tỉnh Đồng Tháp;

Các thửa đất trên đều do ông Đặng Văn T (cha ruột anh T2) đại diện hộ đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại thời điểm cấp đất hộ ông Đặng Văn T có 04 nhân khẩu gồm: Đặng Văn T, Phạm Thị K, Đặng Văn T1và Đặng Thị Trúc N.

Căn cứ quyền của người được thi hành án, nay anh Nguyễn C yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sử dụng đất của anh Đặng Văn T1 trong khối tài sản chung là quyền sử dụng các thửađấtnêutrênlàm căn cứ thihành án.

Tại phiên họp sơ thẩm:

Người yêu cầu vẫn giữ nguyên yêu cầu giải quyết việc dân sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến: Đề nghị Chủ tọa hoãn phiên họp do người liên quan vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đương sự và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhận định:

Anh Nguyễn C có đơn yêu cầu xác định phần quyền sử dụng đất của anh Đặng Văn T1 trong khối tài sản chung để thi hành án. Do đó, xác định quan hệ pháp luật là yêu cầu xác định phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để thi hành án theo quy định tại khoản 9 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại Điều 35 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải đối thoại tại Tòa án năm 2015.

Xét yêu cầu giải quyết việc dân sự của thì thấy rằng:

Tại Quyết định số: 75/2023/QĐST-DS ngày 09/11/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang nay là Tòa án nhân dân khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp thì anh Đặng Văn T1 có nghĩa vụ trả cho anh Nguyễn C số tiền là 620.185.000 đồng.

Theo kết quả xác minh, thu thập chứng cứ thì:

Ông Đặng Văn Tlàcha của anh Đặng Văn T1đangthay mặt hộgiađìnhđứngtênquyền

2 sử dụng thửa đất số 1286, tờ bản đồ 17, diện tích 17.935m tại Khu phố A, phường B, tỉnh Đồng Tháp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ H03969 do Ủy ban nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang nay thuộc tỉnh Đồng Tháp và thửa 1605, tờ bản đồ 17, diện tích

2 5.718m tại khu phố B, phường B, tỉnh Đồng Tháp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ H03968 do Ủy ban nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang nay thuộc tỉnh Đồng Tháp cấpcùngngày 28/12/2005;

Ông Đặng Văn T1 đại diện hộ đứng tên quyền sử dụng thửa đất số 1274, tờ bản đồ 17,

2 diện tích 10.338m tại Khu phố A, phường B, tỉnh Đồng Tháp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 531977, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H03935 do Ủy ban nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang nay thuộc tỉnh Đồng Tháp cấp vào ngày 28/12/2005,

2

và thửa đất số 1117, tờ bản đồ 17, diện tích 160m tại Khu phố A, phường B, tỉnh Đồng Tháp theo giấy chứngnhậnquyềnsử dụngđấtsố AC552205,sốvàosổ cấpgiấy chứngnhậnquyềnsử dụng đất: H03936 do Ủy ban nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang nay thuộc tỉnh Đồng Tháp cấp vào ngày 28/12/2005 cùng được điều chỉnh biến động đất đai cấp cho hộ ông Đặng Văn T1 ngày 07/6/2010 theo xác nhận của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang nay là Chinhánh VănphòngđăngkýđấtđaikhuvựcVII,tỉnh Đồng Tháp.

Theo công văn số: 126/CAX ngày 03/4/2025 của Công an phường Mỹ Phước Tây, tỉnh Đồng Tháp xác định tại thời điểm ngày 28/12/2005 hộ ông Đặng Văn T có 04 nhân khẩu gồm: Ông Đặng Văn T (chủ hộ), bà Phạm Thị K (vợ), anh Đặng Văn T1 (con) và chị Đặng Thị Trúc N (con).

Quaxem xéthồsơ cấpgiấy chứng nhậnquyềnsử dụngđất:

Nguồn gốc quyền sử dụng thửa đất 1286 là do ông Đặng Văn T nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn Tư vàonăm 1992;

Nguồn gốc quyền sử dụng thửa đất 1605 là do ông Đặng Văn T nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn Vốnvàongày 05/07/1996;

Vào thời điểm ông Đặng Văn T nhận chuyển nhượng đất anh Đặng Văn T1 còn rất nhỏ tuổi.

Nguồn gốc thửa đất 1274 và 1117 là do anh Đặng Văn T1 nhận chuyển nhượng từ gia đình bà Lê Thị Thơi vào ngày 11/01/2010. Theo bản sao trích lục kết hôn số: 140/2026/TLKH - BS ngày 26/01/2016 của Ủy ban nhân dân phường Mỹ Phước Tây, tỉnh Đồng Tháp thì anh Đặng Văn T1 với chị Nguyễn Thị Phương T2 xác lập quan hệ hôn nhân vào ngày 11/02/2014, nên có căn cứ xác định thửa đất 1274 và 1117 là tài sản riêng của anh T2, do được hình thành trướckhi anh T2kếthôn.

Như vậy, xác định anh Đặng Văn T1 không có quyền sử dụng đối với thửa đất số

2

1286, tờ bản đồ 17, diện tích 17.935m tại Khu phố A, phường B, tỉnh Đồng Tháp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ H03969 do Ủy ban nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh

2 Tiền Giang nay thuộc tỉnh Đồng Tháp và thửa 1605, tờ bản đồ 17, diện tích 5.718m tại khu phố B, phường B, tỉnh Đồng Tháp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ H03968 do Ủy ban nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang nay thuộc tỉnh Đồng Tháp cấp cùng ngày 28/12/2005 cho hộ ông Đặng Văn T. Và căn cứ quy định tại Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình

2 năm 2014, xácđịnhthửađất số 1274,tờ bảnđồ17, diện tích10.338m tại Khuphố A, phườngB,

2 tỉnh Đồng Thápvàthửađấtsố1117,tờbảnđồ 17, diệntích 160m tại Khuphố A,phường B,tỉnh Đồng Tháplà thuộcquyềnsử dụng của anhĐặngVăn T1.

Về lệ phí: Căn cứ quy định tại Điều 149 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, anh Nguyễn C phải chịu toàn bộ lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

Xét ý kiến và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp về việc hoãn phiên họp do người liên quan vắng mặt: Xét, đây là việc dân sự không có tranh chấp, tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ đã thể hiện rõ và việc vắng mặt người liên quan không thuộc trường hợp phải hoãn phiên theo quy định tại Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên phiên họp vẫn được tiến hành.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 9 Điều 27, Điều 149 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 35 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2025; Điều 43 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 74 Luật thi hành án dân sự năm 2014; khoản 4 Điều 11 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Nguyễn Bái

2 Phục về việc xác định thửa đất số 1274, tờ bản đồ 17, diện tích 10.338m tại Khu phố A,

2 phường B, tỉnh Đồng Tháp và thửa đất số 1117, tờ bản đồ 17, diện tích 160m tại Khu phố A, phường B,tỉnh Đồng Tháp là thuộc quyền sử dụng của anh Đặng Văn T1.

2. Không chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Nguyễn Bái Phục về việc xác định anh Đặng Văn T1 có quyền sử dụng đối với thửa đất số

2

1286, tờ bản đồ 17, diện tích 17.935m tại Khu phố A, phường B, tỉnh Đồng Tháp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ H03969 do Ủy ban nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh

2 Tiền Giang nay thuộc tỉnh Đồng Tháp và thửa 1605, tờ bản đồ 17, diện tích 5.718m tại khu phố B, phường B, tỉnh Đồng Tháp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ H03968 do Ủy ban nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang nay thuộc tỉnh Đồng Tháp cấp cùng ngày 28/12/2005chohộông Đặng VănT.

3. Lệ phí sơ thẩm: Anh Nguyễn C phải chịu 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm. Được khấu trừ 300.000 đồng lệ phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000659 ngày 25/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang nên xem như đã thi hành xong.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Đồng Tháp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.Đối với người vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết.

Cỡ chữ