vanban.org

Quyết định 04/2026/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Trần Anh T. Thời hạn cai nghiện ma túy bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2 (địa chỉ: Ấp B, xã T, tỉnh T) là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, kể từ ngày người bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện…

Ông Trần Anh T có quyền khiếu nại trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc ngày Tòa án niêm yết quyết định. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện băt buộc đối với Trần Anh T"
  • Tòa quyết gì? Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Trần Anh T. Thời hạn cai nghiện ma túy bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2 (địa chỉ: Ấp B, xã T, tỉnh T) là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, kể từ ngày người bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 – T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2026/QĐ-TAT, ngày 28 tháng 01 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – T

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

- Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh L

- Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Văn Q

Ngày 28 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 – T tiến hành phiên họp xem xét, quyết định đưa vào cơ sở cai nghiê ̣n bắt buô ̣c theo Quyết định mở phiên họp số 04/2026/QĐ-TA ngày 22 tháng 01 năm 2026, đối với:

Trần Anh T, sinh ngày 10 tháng 6 năm 1976; Số căn cước công dân: 080076006626, ngày cấp 09/8/2021, nơi cấp: Cục C về TTXH - Bộ C1; Nghề nghiệp: Không; Nơi cư trú: Khu phố D, phường K, tỉnh T). Trình độ văn hóa: 07/12; Cha: Ông Trần Văn T1 (đã chết). Mẹ: Bà Nguyễn Thị Hồng N, 72 tuổi. Vợ: Bà Nguyễn Thị Trúc L1, 49 tuổi. Có 02 con, lớn 23 tuổi, nhỏ 20 tuổi.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 03/11/2025, ông Trần Anh T bị Công an phường K xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với hình thức phạt tiền theo Quyết định số 87/QĐ-XPHC ngày 03/11/2025, ông T chưa đóng phạt.

Ông T vắng mặt không có lý do.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Thanh S – Trưởng Công an phường K, tỉnh T.

Người đại diện theo ủy quyền của Trưởng Công an phường K, tỉnh T: Ông Đỗ Thanh H – Phó Trưởng Công an phường K, tỉnh T.

Văn bản ủy quyền số: 78/TB-CAP ngày 26/01/2026 của Trưởng Công an phường K, tỉnh T.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - T: Bà Nguyễn Thị Ng– Kiểm sát viên.

Ông H, bà Ng có mặt.

NHẬN THẤY:

Theo tài liệu có trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Trần Anh T, nội dung sự việc được tóm tắt như sau:

Vào ngày 24/10/2025 Trần Anh T vi phạm pháp luật với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an phường K (kiểm tra) nhanh phát hiện dương tính với ma túy đá.

Ngày 05/11/2025, UBND phường K ra quyết định số 125/QĐ-UBND áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo Nghị định 105/2021/NĐ-CP ngày 04/12/2021.

Ngày 21/12/2025, Trần Anh T vi phạm pháp luật về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an phường K lập hồ sơ vi phạm và đưa đi xác định tình trạng nghiện ma túy tại Bệnh viện Đ. Tại Phiếu kết quả trả lời tình trạng nghiện ma túy đối với Trần Anh T ngày 26/12/2025 của Bệnh viện Đ xác định có nghiện ma túy.

Ngày 06/01/2025, Trần Anh T vi phạm không đăng ký cai nghiện tự nguyện theo Điều 32, Điều 33 Luật phòng, chống ma túy. Công an phường K tiến hành lập hồ sơ và đề nghị áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc theo nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ.

Trưởng Công an phường K, tỉnh T đã tiến hành các thủ tục lập hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Trần Anh T. Ngày 13/01/2026, Trưởng Công an phường K, tỉnh T ban hành văn bản số 34/ĐN-CAP đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 8 - T xem xét, quyết định đưa vào cơ sở cai nghiê ̣n bắt buô ̣c đối với ông Trần Anh T.

Ông Trần Anh T đã được đọc hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, được tống đạt Thông báo thụ lý hồ sơ, Quyết định mở phiên họp nhưng vắng mặt tại phiên họp không có lý do.

Tại phiên họp:

Ý kiến đại diện cơ quan đề nghị: Đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 8 – T xem xét, quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Trần Anh T.

Ý kiến của ngườ i bi ̣ đề nghi ̣: Ông Trần Anh T vắng mặt không có ý kiến nhưng tại hồ sơ ông T thừa nhận có hành vi sử du ̣ng trái phép chất ma túy và vi phạm không đăng ký cai nghiện tự nguyện.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – T:

Quá trình thụ lý hồ sơ xem xét, quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và tại phiên họp Thẩm phán, Thư ký đa thự̃

c hiê ̣n theo đúng quy định về trình tự, thủ tục tiến hành phiên họp xem xét, quyết định việc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Điều 21 Pháp lệnh về Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Người tham gia phiên họp đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 19 Pháp lệnh về Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Về việc xem xét, quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1, Điều 33 Nghị định 116/2021/NĐ-CP; khoản 1, Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy năm 2021; khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính: Chấp nhận đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Anh T của Công an Phường K, tỉnh T.

XÉT THẤY:

. Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc phù hợp quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 88/2025/QH15 của Quốc hội (sau đây gọi là Luật Xử lý vi phạm hành chính); Luật Phòng, chống ma túy năm 2021; Nghi ̣ đi ̣nh số 116/2021/NĐ-CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ; Thông tư liên tịch số 03/2026/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2026.

. Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm:

Ông Trần Anh T là người nghiện ma túy, đã được thể hiện tại Phiếu kết quả xác định tình trạng ma túy số 519/XN-BVKT ngày 26 tháng 12 năm 2025 của của Bệnh viện Đ xác định ông Trần Anh T có nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng là Methamphetamine.

Ông Trần Anh T vi phạm không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện theo khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy.

Xét thấy, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của ông Trần Anh T là nguy hiểm cho bản thân và xã hội, vi phạm quy định của pháp luật về phòng, chống ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Ông Trần Anh T biết rõ tác hại của chất ma túy và hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không chấp hành, thiếu ý thứ c rèn luyê ̣n, tu dưỡng bản thân.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình lập hồ sơ, ông Trần Anh T thành khẩn khai báo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Từ những nhận định nêu trên, chấp nhận đề nghị của Trưởng Công an phường K, tỉnh T và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – T.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Trần Anh T. Thời hạn cai nghiện ma túy bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2 (địa chỉ: Ấp B, xã T, tỉnh T) là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, kể từ ngày người bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

2. Ông Trần Anh T có quyền khiếu nại trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc ngày Tòa án niêm yết quyết định.

3. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Trưởng Công an phường K, tỉnh T và Cơ sở cai nghiện ma túy số 2, tỉnh T có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ