- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con — án hôn nhân và gia đình — "Yêu cầu công nhận thỏa thuận của cha, mẹ về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Nguyễn Văn D và chị Bùi Thị Thúy H về việc: Yêu cầu công nhận thỏa thuận của cha, mẹ về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Luật Tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 04/2025/QĐST- HNGĐ | Tuyên Quang, ngày 21 tháng 11 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu công nhận thỏa thuận của cha, mẹ về thay đổi người trực tiếp nuôi
con sau khi ly hôn
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - TUYÊN QUANG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Ngọc Cử
Thư ký phiên họp: Ông Linh Đức Minh – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Tuyên Quang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Tuyên Quang tham gia phiên họp: Bà Hoàng Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Tuyên Quang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc hôn nhân và gia đình thụ lý số 107/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2025 về việc “Yêu cầu công nhận thỏa thuận của cha, mẹ về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định mở phiên họp số 19/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 12 tháng 11 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu:
- Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn 14, xã V, tỉnh Tuyên Quang. (Vắng mặt).
- Chị Bùi Thị Thúy H, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường L, thành phố Hải Phòng. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 28 tháng 8 năm 2025 của anh Nguyễn Văn D và chị Bùi Thị Thúy H trình bày:
Anh Nguyễn Văn D và chị Bùi Thị Thúy H đã ly hôn theo quyết định của bản án số 05/2022/HNGĐ-ST ngày 08 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Hà Giang (cũ). Về phần con chung của bản án đã tuyên: Giao cho chị Bùi Thị Thúy H, sinh năm 1989 nuôi con là Nguyễn Thanh H1, sinh ngày 11/8/2012 cho đến khi con đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Văn D không phải cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay chị H đang thường trú tại khu dân cư T, phường L, thành phố Hải Phòng. Về mặt pháp lý, hiện con chung đang ở với chị Bùi Thị Thúy H trực tiếp nuôi dưỡng. Tuy nhiên, hiện nay cháu Nguyễn Thanh H1 có nguyện vọng được ở với anh Nguyễn Văn D, đồng thời chị H đồng ý theo nguyện vọng của cháu H1, hiện nay cháu H1 đã chuyển lên ở cùng với anh D và cũng đang học tập tại trường THCS X, xã V, tỉnh Tuyên Quang từ năm học 2025-2026.
Do vậy anh Nguyễn Văn D và chị Bùi Thị Thúy H có đơn đề nghị Tòa án xem xét thay đổi người trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Thanh H1 từ chị Bùi Thị Thúy H sang anh Nguyễn Văn D để cháu H1 thuận lợi hơn trong quá trình học tập và sinh sống. Anh D không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung. Ngoài ra anh D, chị H không còn đề nghị gì khác.
Tại biên bản về việc ghi ý kiến nguyện vọng của con chung, cháu Nguyễn Thanh H1 cũng xác nhận có nguyện vọng được về chung sống với bố cháu là Nguyễn Văn D tại Thôn 14, xã V, tỉnh Tuyên Quang.
Tại đơn xin vắng mặt tại phiên họp ngày của anh Nguyễn Văn D và chị Bùi Thị Thúy H vẫn giữ nguyên yêu cầu như nội dung đơn yêu cầu đã nộp tại Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Tuyên Quang tham gia phiên họp phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Đây là việc hôn nhân gia đình về việc yêu cầu công nhận thỏa thuận của cha, mẹ về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Tuyên Quang thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết vụ việc cũng như tại phiên họp giải quyết việc dân sự Thẩm phán, Thư ký và các đương sự thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ việc: Căn cứ khoản 3 Điều 29; Điều 35; điểm i khoản 2 Điều 39; 367, 370, 371 và Điều 372 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm d khoản 2 Điều 11 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án đề nghị Toà án nhân dân Khu vực 4 - Tuyên Quang:
Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn D và chị Bùi Thị Thúy H về việc ‘Công nhận thỏa thuận của cha, mẹ về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”. Giao cháu Nguyễn Thanh H1, sinh ngày 11/8/2012 cho anh Nguyễn Văn D là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu H1 đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh D không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con nên không đề nghị xem xét giải quyết.
Về lệ phí: Người yêu cầu thuộc trường hợp không phải chịu tiền lệ phí giải quyết việc hôn nhân và gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự đã được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Tuyên Quang nhận định:
Người yêu cầu là anh Nguyễn Văn D cư trú tại Thôn 14, xã V, tỉnh Tuyên Quang và chị Bùi Thị Thúy H cư trú tại Tổ dân phố T, phường L, thành phố Hải Phòng có yêu cầu công nhận thỏa thuận của cha, mẹ về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Căn cứ khoản 3 Điều 29, Điều 35 và điểm i khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 “Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án” xác định việc hôn nhân và gia đình nêu trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Tuyên Quang.
Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên hợp vắng mặt người yêu cầu là anh Nguyễn Văn D và chị Bùi Thị Thúy H có lý do (có đơn xin vắng mặt tại phiên họp). Xét việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng đến việc giải quyết việc dân sự. Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành mở phiên họp.
Về nội dung yêu cầu: Anh Nguyễn Văn D và chị Bùi Thị Thúy H có đơn yêu cầu Tòa án công nhận thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Do đó, việc Tòa án mở phiên họp giải quyết việc dân sự là phù hợp với nguyện vọng của các bên và phù hợp với quy định của pháp luật.
Về yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn: Theo quyết định của Bản án số 05/2022/HNGĐ-ST ngày 08 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Hà Giang (cũ). Về phần con chung của bản án đã tuyên: Giao cháu Nguyễn Thanh H1, sinh ngày 11/8/2012 cho chị Bùi Thị Thúy H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu H1 trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Văn D không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền đi lại thăm nom con theo quy định. Về mặt pháp lý, hiện cháu H1 đang do chị Bùi Thị Thúy H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tuy nhiên, hiện nay cháu Nguyễn Thanh H1 có nguyện vọng được ở với anh Nguyễn Văn D, đồng thời anh D và chị H cũng đã thỏa thuận thay đổi người trực tiếp nuôi con, cụ thể: Anh Nguyễn Văn D là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyễn Thanh H1, sinh ngày 11/8/2012 cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi. Xét thấy sự thỏa thuận của anh D, chị H là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định của pháp luật và đạo đức xã hội, phù hợp với lợi ích, sự phát triển và nguyện vọng của con chung. Do đó căn cứ quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu công nhận thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của anh Nguyễn Văn D và chị Bùi Thị Thúy H.
Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Nguyễn Văn D không yêu cầu chị Bùi Thị Thúy H cấp dưỡng nuôi con.
Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc hôn nhân và gia đình: Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 11 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Anh Nguyễn Văn D và chị Bùi Thị Thúy H không phải chịu lệ phí dân sự sơ thẩm giải quyết việc hôn nhân và gia đình.
Người yêu cầu có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 371, Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Căn cứ khoản 3 Điều 29, Điều 35 và điểm i khoản 2 Điều 39, Điều 367, Điều 370, Điều 371 và Điều 372 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 “Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án”; Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm d khoản 2 Điều 11 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Nguyễn Văn D và chị Bùi Thị Thúy H về việc: Yêu cầu công nhận thỏa thuận của cha, mẹ về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
2. Anh Nguyễn Văn D là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyễn Thanh H1, sinh ngày 11/8/2012 cho đến khi cháu H1 trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị Bùi Thị Thúy H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con là không cố định.
Phần quyết định này thay thế cho phần nội dung: Nuôi con chung đối với cháu Nguyễn Thanh H1, sinh ngày 11/8/2022 tại phần Quyết định của Bản án số 05/2022/HNGĐ-ST ngày 08 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Hà Giang (cũ).
3. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc hôn nhân và gia đình: Anh Nguyễn Văn D và chị Bùi Thị Thúy H không phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc hôn nhân và gia đình.
4. Người yêu cầu có quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết theo quy định. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND Khu vực 4; - THADS tỉnh Tuyên Quang; - Người yêu cầu; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Ngọc Cử |