vanban.org

Quyết định 04/2025/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang Tuyên án 23/04/2025 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Vừ Thị S.

Tuyên bố chị Lầu Thị D, sinh năm 1991; nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn P, xã S1, huyện Đ, tỉnh Hà Giang mất tích. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Vừ Thị S được miễn lệ phí dân sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Người yêu cầu chị Vừ Thị S, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lầu Thị D"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Vừ Thị S.
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 369 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2025/QĐST-DSĐ, ngày 23 tháng 4 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH HÀ GIANG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Hoàng Thị Vân.

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Văn Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Hà Giang.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Hà Giang tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Mạnh Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 23/4/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Hà Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 11/2024/TLST-DS ngày 12/11/2024 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số 04/2025/QĐST-DS ngày 07/4/2025.

Người yêu cầu: Chị Vừ Thị S, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn P, xã S1, huyện Đ, tỉnh Hà Giang. Đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Ngọc C, sinh năm 1982; địa chỉ: Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Giang. (có mặt ông Chung; vắng mặt chị S có lý do)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người yêu cầu: Ông Hoàng Ngọc C, sinh năm 1982; Là trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Giang. (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Lầu Thị D, sinh năm 1991; Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn P, xã S1, huyện Đ, tỉnh Hà Giang.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và tại phiên họp đại diện theo ủy quyền của người yêu cầu trình bày: Anh Thò Mí Ly, sinh năm 1984 và chị Lầu Thị D, sinh năm 1991 chung sống với nhau như vợ chồng từ tháng 01/2008, không đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống hạnh phúc, có với nhau 02 con là Thò Mí Tủa, sinh ngày 10/5/2011 và Thò Thị Giàng, sinh ngày 17/5/2013. Đến tháng 4/2017 chị Lầu Thị D bỏ nhà đi không báo cho gia đình và chính quyền địa phương biết, không biết bà đi đâu và làm gì. Từ khi chị D biệt tích, anh Ly và gia đình đã áp dụng nhiều biện pháp tìm kiếm như báo cho chính quyền địa phương, thông báo cho bạn bè và người thân gia đình hai bên nội ngoại đi tìm kiếm chị D nhiều lần, ở nhiều nơi nhưng không thấy tin tức gì về chị Lầu Thị D. Đến tháng 5/2020 anh Thò Mí Ly chết, chị Lầu Thị D biệt tích bỏ lại hai người con vẫn chưa trưởng thành. Chị Vừ Thị S là em dâu anh Ly, chị D đồng thời là người trực tiếp nuôi dưỡng và giám hộ cho hai cháu Thò Mí Tủa và Thò Thị Giàng. Để đảm bảo quyền lợi cho hai cháu Tủa và Giàng trong việc hưởng chính sách bảo trợ xã hội nên chị Vừ Thị S đã làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Lầu Thị D mất tích.

Tại phiên họp, đại diện theo ủy quyền của người yêu cầu giữ nguyên quan điểm về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Lầu Thị D mất tích.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu giải quyết việc dân sự trình bày: Chị Vừ Thị S là người giám hộ và hiện đang trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu Thò Mí Tủa, sinh ngày 10/5/2011 và Thò Thị Giàng, sinh ngày 17/5/2013 do mẹ là Lầu Thị D đã bỏ đi biệt tích từ tháng 4/2017, bố là Thò Mí Ly đã chết, để đảm bảo quyền lợi cho hai cháu T và G trong việc hưởng chính sách bảo trợ xã hội chị Vừ Thị S đã làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Lầu Thị D mất tích. Do chị Vừ Thị S thuộc diện được hỗ trợ kinh phí thực hiện hoàn tất thủ tục hưởng chế độ trợ giúp xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn tỉnh Hà Giang theo Nghị quyết số 17/2023/NQ-HĐND ngày 15/7/2023 của Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Giang, nên Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Hà Giang (đầu mối tiếp nhận và chi trả việc hỗ trợ) đã trích nguồn để nộp các chi phí đăng phát thông tin tìm kiếm chị Lầu Thị D. Đến nay đã hết thời hạn bốn tháng kể từ ngày đăng phát thông tin đầu tiên mà vẫn không xác định được chị D hiện đang làm gì, ở đâu, còn sống hay đã chết nên đề nghị Tòa án tuyên bố chị Lầu Thị D, sinh năm 1991; nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn P, xã S1, huyện Đ, tỉnh Hà Giang mất tích theo đơn yêu cầu của chị Vừ Thị S.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Hà Giang tham gia phiên họp: Về tố tụng, từ khi thụ lý vụ việc cho đến khi mở phiên họp và tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, hợp tác tốt với Tòa án. Sau khi thụ lý vụ việc, Tòa án nhân dân huyện Đ đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích nhưng không thấy chị Lầu Thị D quay về địa phương. Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đ áp dụng Điều 387, Điều 388 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự để chấp nhận yêu cầu của chị Vừ Thị S, ra quyết định tuyên bố chị Lầu Thị D mất tích. Về lệ phí, chị Vừ Thị S là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn lệ phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Đ nhận định:

Về tố tụng: Đơn yêu cầu của anh Sùng Mí Hờ về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Thò Thị Súng mất tích được Tòa án nhân dân huyện Đ thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung việc dân sự: Anh Thò Mí Ly, sinh năm 1984 và chị Lầu Thị D, sinh năm 1991 chung sống với nhau như vợ chồng từ tháng 01/2008, không đăng ký kết hôn. Vợ chồng có 02 con là Thò Mí Tủa, sinh ngày 10/5/2011 và Thò Thị Giàng, sinh ngày 17/5/2013. Đến tháng 4/2017 chị Lầu Thị D bỏ nhà đi biệt tích đến nay không tin tức gì. Anh Ly và gia đình đã đi tìm kiếm chị D nhiều lần, ở nhiều nơi nhưng không thấy tin tức gì về chị D, tính đến nay chị D đã biệt tích 08 năm. Hiện chị Vừ Thị S là người trực tiếp nuôi dưỡng và là người giám hộ cho hai cháu Thò Mí T và Thò Thị G. Việc chị Lầu Thị D biệt tích đã được Công an xã S1, huyện Đ, tỉnh Hà Giang xác nhận chị Lầu Thị D đi khỏi nơi cư trú từ năm tháng 4/2017 cho đến nay chị D không có mặt tại nơi cư trú và không có tin tức gì về chị Lầu Thị D.

Sau khi thụ lý việc dân sự theo đơn yêu cầu của chị Vừ Thị S, Tòa án nhân dân huyện Đ đã ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chị Lầu Thị D. Thông báo tìm kiếm chị Lầu Thị D đã được Báo Công lý đăng tin trên 03 số báo liên tiếp số 100, 101 và 102 ra các ngày 13, 18, 20/12/2024; Đài tiếng nói Việt Nam đã phát tin nhắn tìm chị Lầu Thị D trong 03 ngày liên tiếp, phát vào 13 giờ 25 phút - 16 giờ 00 phút các ngày 16, 17, 18/12/2024. Đến nay đã hết thời hạn thông báo nhưng vẫn không có tin tức xác thực về chị Lầu Thị D còn sống hay đã chết. Từ những nhận định trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, căn cứ khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự, có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu của chị Vừ Thị S.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị Vừ Thị S là người dân tộc thiểu số, sinh sống xã có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn lệ phí nên được miễn lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 369, Điều 370, Điều 388, Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 12; khoản 5 Điều 16 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu của chị Vừ Thị S.

1. Tuyên bố chị Lầu Thị D, sinh năm 1991; nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn P, xã S1, huyện Đ, tỉnh Hà Giang mất tích.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Vừ Thị S được miễn lệ phí dân sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày quyết định được niêm yết; Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.

Cỡ chữ