- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "OANH DÃI"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2025/HNGĐ-ST Ngày: 17 - 01 - 2025 V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung & cấp dưỡng nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc T
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lƣơng Phi H
2. Ông Sơn M
- Thư ký phiên tòa: Ông Ứng Văn T – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh tham gia phiên toà: Thuộc trường hợp không tham gia.
Trong ngày 17 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 338/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung và cấp dưỡng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 12 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 82/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 31 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Sơn Thị Hoàng O, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt.
Bị đơn: Anh Thạch D, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại Đơn khởi kiện đề ngày 16/8/2024 và qua quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Sơn Thị Hoàng O trình bày:
Chị Sơn Thị Hoàng O và anh Thạch D do quen biết nhau và sau thời gian tìm hiểu cả hai đã quyết định tiến tới hôn nhân, có tổ chức tiệc cưới theo phong tục truyền thống. Cả hai anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long theo Giấy chứng nhận kết hôn số 37 ngày 12/5/2015.
Thời gian đầu hai vợ chồng chung sống hạnh phúc, về sau phát sinh mâu thuẫn, cả hai thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, chị O đã về nhà mẹ đẻ, hai anh chị đã sống ly thân hơn một năm nay. Từ đó, chị O nhận thấy đời sống vợ chồng không thể kéo dài, hôn nhân không còn hòa hợp nên xin được ly hôn với anh Thạch D.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giữa chị Sơn Thị Hoàng O và anh Thạch D có 01 người con chung là cháu Thạch Hoàng A, sinh ngày 18/7/2015. Hiện tại cháu Hoàng A đang sống cùng với anh Thạch D, sau khi ly hôn chị O đồng ý để cháu Hoàng A cho anh Thạch D tiếp tục nuôi dưỡng. Chị O đồng ý cấp dưỡng nuôi con 1.500.000 đồng/tháng cho tới khi cháu Hoàng A trưởng thành.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Sơn Thị Hoàng O không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Thạch D trình bày: Anh không đồng ý ly hôn với chị Hoàng O, nếu Tòa án giải quyết cho ly hôn thì anh yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu Thạch Hoàng A, anh không yêu cầu chị O phải cấp dưỡng nuôi con. Ngoài ra, anh không còn yêu cầu nào khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về trình tự thủ tục tố tụng: Tại phiên toà, nguyên đơn chị Sơn Thị Hoàng O có đơn xin vắng mặt đề ngày 31/12/2024 và bị đơn anh Thạch D bị đã được tòa án triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, việc vắng mặt của các đương sự nêu trên là không vì sự kiện bất khả kháng. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị Sơn Thị Hoàng O và anh Thạch D.
Về quan hệ hôn nhân:
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Sơn Thị Hoàng O, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Theo lời trình bày của chị Hoàng O thì giữa chị và anh Thạch D do quen biết nhau và sau thời gian tìm hiểu cả hai đã quyết định tiến tới hôn nhân, có tổ chức tiệc cưới theo phong tục truyền thống. Cả hai anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long theo Giấy chứng nhận kết hôn số 37 ngày 12/5/2015.
Thời gian đầu hai vợ chồng chung sống hạnh phúc, về sau phát sinh mâu thuẫn, cả hai thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, chị O đã về nh mẹ đẻ, hai anh chị đã sống ly thân hơn một năm nay.
Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Thạch D trình bày không đồng ý ly hôn với chị Hoàng O nhưng không thể hiện thiện chí đoàn tụ gia đình. Thêm nữa, giữa anh và chị Hoành O1 đã sống ly thân một thời gian, nên Hội đồng xét xử nhận thấy đời sống chung không thể kéo dài, hôn nhân không còn hòa hợp, mục đích hôn nhân không đạt được.
Từ đó nhận thấy đời sống hôn nhân giữa hai chị Hoàng O và anh Thạch D đã rơi vào tình trạng bế tắc trầm trọng, không còn sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình. Vì vậy, xét yêu cầu xin ly hôn của chị O là có cơ sở để chấp nhận, nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Hoàng O được ly hôn với anh Thạch D.
Về con chung: Giữa chị Sơn Thị Hoàng O và anh Thạch D có 01 con chung là cháu Thạch Hoàng A, sinh ngày 18/7/2015. Hiện tại cháu Hoàng A đang sống cùng với anh Thạch D, sau khi ly hôn chị O đồng ý để cháu Hoàng A cho anh Thạch D tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Thạch D cũng đồng ý tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hoàng A. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận để cháu Thạch Hoàng A cho anh Thạch D được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.
Chị Sơn Thị Hoàng O không trực tiếp nuôi con nhưng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị O đồng ý tự nguyên cấp dưỡng nuôi con 1.500.000 đồng/tháng cho tới khi cháu Hoàng A trưởng thành. Vì vậy, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị O không yêu cầu, anh Hoàng A cũng không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí hôn và cấp dưỡng sơ thẩm: Buộc chị Sơn Thị Hoàng O phải nộp số tiền 300.000 đồng và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con, nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0013028 ngày 22/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bình Minh, nên chị Sơn Thị Hoàng O còn phải nộp tiếp số tiền 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các Điều 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014,
- Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự,
- Điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Sơn Thị Hoàng O
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Sơn Thị Hoàng O được ly hôn với anh Thạch D.
1.2. Về con chung: Giao cháu Thạch Hoàng A, sinh ngày 18/7/2015 cho anh Thạch D được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.
Chị Sơn Thị Hoàng O không trực tiếp nuôi con nhưng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
1.3. Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyên cấp dưỡng nuôi con của chị con 1.500.000 đồng/tháng (Một triệu năm trăm nghìn đồng trên tháng) cho tới khi cháu Hoàng A tròn 18 tuổi.
1.4. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
2. Về án phí hôn nhân và cấp dưỡng sơ thẩm: Buộc chị Sơn Thị Hoàng O phải nộp số tiền 300.000 đồng và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con, nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0013028 ngày 22/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bình Minh, nên chị Sơn Thị Hoàng O còn phải nộp tiếp số tiền 300.000 đồng.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, báo cho đương sự biết, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh VL: 01; - VKSND TXBM: 01; - Chi cục THADS TXBM: 01; - UBND xã Đông Thành; - Đương sự: 02; - Lưu: 08. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Khắc T |