vanban.org

Quyết định 04/2024/QĐDS-ST — Y/c thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó

TAND TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 11/07/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ khoản 2 Điều 27; khoản 2 Điều 35; Điều 370 và Điều 383 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 64 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Lê Thị Kim S. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó — án dân sự — "Người yêu cầu Lê Thị Kim S"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ khoản 2 Điều 27; khoản 2 Điều 35; Điều 370 và Điều 383 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ G
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2024/QĐDS-ST
Ngày 11 - 07 - 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ G, TỈNH KIÊN GIANG

Với thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Huỳnh Thị Thùy Linh

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố G.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố G tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Kim Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thánh phố G, tỉnh Kiên Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 05/2024/TLST-VDS ngày 04 tháng 04 năm 2024 về yêu cầu Thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú theo Quyết định mở phiên họp số: 05/2024/QĐPH-ST ngày 02 tháng 07 năm 2024 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Lê Thị Kim S, sinh ngày 06/08/1960

Thường trú: Số 86/10/4 đường C, phường T1, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.

Chỗ ở hiện nay: Số 83/5 đường T2, phường T1, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện uỷ quyền: Bà Nguyễn Thị Hồng Ngọc, sinh năm 1984

Địa chỉ: Số 40 đường C, phường T1, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo nội dung đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc “Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” đề ngày 28/04/2020, bản tự khai của bà Lê Thị Kim S và tại phiên họp người đại diện theo uỷ quyền của người yêu cầu là bà Nguyễn Thị Hồng N trình bày: Bà Lê Thị Kim S và bà Lê Thị Kim T là chị em ruột. Sinh thời, cha ông Lê Ngọc U và mẹ là Nguyễn Thị X sinh được 07 người con trong đó có bà S và bà T. Sau khi cha, mẹ chết không để lại di chúc có để lại căn nhà và đất tại số 83/5 đường T2, phường T1, thành phố G, tỉnh Kiên Giang, anh chị em bà S đều có gia đình riêng nên thống nhất giao nhà đất trên cho bà T và chồng là Nguyễn Văn T3 ở và trông coi, gìn giữ căn nhà để thờ cúng ông bà. Nhưng đến năm 2016 bà T được giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà và đất đối với phần đất trên mặc dù nhà và đất này là di sản thừa kế chưa được chia.

Đến năm 2019, bà T và chồng là ông Nguyễn Văn T3 đã bỏ nhà đi khỏi địa phương đến nay không có tin tức gì, hiện nay bà S cũng không biết bà T đang sinh sống ở đâu. Nay bà S yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Lê Thị Kim T, sinh năm 1961, có nơi cư trú cuối cùng số 83/5 đường T2, phường T1, thành phố G, tỉnh Kiên Giang để bà S làm thủ tục yêu cầu chia di sản thừa kế đúng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên họp, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố G phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, thư ký phiên họp, đương sự đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Tuy nhiên còn vi phạm thời hạn xét đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự theo quy định tại Điều 366 Bộ luật tố tụng dân sự.

Quan điểm về việc giải quyết nội dung vụ việc dân sự: Đề nghị áp dụng Điều 64 Bộ luật dân sự. Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Kim S về việc Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Lê Thị Kim T, sinh năm 1961, có nơi cư trú cuối cùng số 83/5 đường T2, phường T1, thành phố G, tỉnh Kiên Giang. Về biện pháp quản lý tài sản do bà S không yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự; đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố G tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố G nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Người yêu cầu bà Lê Thị Kim S có đơn yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Lê Thị Kim T. Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xác định quan hệ pháp luật của vụ việc là “Yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” và yêu cầu này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố G theo quy định tại khoản 2 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ việc: Bà Lê Thị Kim S yêu cầu Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Lê Thị Kim T, sinh năm 1961, có nơi cư trú cuối cùng số 83/5 đường T2, phường T1, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.

Từ những chứng cứ do người yêu cầu cung cấp cũng như Tòa án thu thập cho thấy, bà Lê Thị Kim T có đăng ký thường trú và sinh sống tại địa chỉ số 83/5 đường T2, phường T1, thành phố G, tỉnh Kiên Giang nhưng bà T không còn sinh sống tại đây từ đầu năm 2019 đến nay không biết đi đâu, không có tung tích gì, theo xác nhận của Công an phường T1, thành phố G, tỉnh Kiên Giang cung cấp. Tại đơn yêu cầu của bà Lê Thị Kim S và tại phiên họp người đại diện theo uỷ quyền bà Nguyễn Thị Hồng N xác định không tìm được nơi cư trú sinh sống của bà T nên bà S có yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú của bà T để làm thủ tục chia di sản thừa kế theo quy định là chính đáng. Bà T đã vắng mặt tại nơi cư trú trên 06 tháng liền, bà S là chị ruột của bà T nên có quyền yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú. Căn cứ quy định tại Điều 64 của Bộ luật Dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân thành phố G có đủ cơ sở để chấp nhận thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú đối với bà T. Về biện pháp quản lý tài sản do bà S không có yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

Xét ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố G là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật nên ghi nhận.

Về lệ phí: Bà Lê Thị Kim S là người cao tuổi nên thuộc trường hợp được miễn lệ phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 27; khoản 2 Điều 35; Điều 370 và Điều 383 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 64 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Lê Thị Kim S.

Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Lê Thị Kim T, sinh năm 1961, có nơi cư trú cuối cùng số 83/5 đường T2, phường T1, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.

Thông báo tìm kiếm bà T được đăng trên báo hàng ngày của Trung ương trong ba số liên tiếp và phát sóng trên Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình của Trung ương ba lần trong ba ngày liên tiếp.

Chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú do người yêu cầu chịu.

2. Về lệ phí việc dân sự: Bà Lê Thị Kim S được miễn lệ phí theo quy định pháp luật.

3. Người yêu cầu có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát nhân dân thành phố G có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 10 ngày, Viện Kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

THẨM PHÁN

Cỡ chữ