vanban.org

Quyết định 04/2024/QĐ-TA

TAND huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam Tuyên án 30/01/2024 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Bùi Văn D.

2/ Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày Bùi Văn D bị tạm giữ đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc là ngày 19/01/2024. 3/ Cơ sở tiếp nhận: Trung tâm điều trị ma túy và phục hồi chức năng tâm thần tỉnh Hà Nam. Trong thời gian cai nghiện, trường hợp có th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Bùi Văn D đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? 1/ Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Bùi Văn D.
  • Căn cứ chính? Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 95 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ T
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2024/QĐ – TAT, ngày 30 tháng 01 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ T, TỈNH HÀ NAM

Với thành phần phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Tiến Đông.

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Khánh Vy.

Ngày 30 tháng 01 năm 2024, tại Trung tâm điều trị nghiện ma tuý và phục hồi chức năng tâm thần tỉnh Hà Nam tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hồ sơ thụ lý số 04/2024/XLHC ngày 24 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định mở phiên họp số 04/QĐ – TA ngày 24 tháng 01 năm 2024 đối với:

Họ và tên: Bùi Văn D, sinh năm 1989, tên gọi khác: Không, nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường N, thị xã T, tỉnh Hà Nam; số căn cước công dân: 035089008866; trình độ học vấn: 2/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Bùi Văn TH (đã chết) và bà Phạm Thị TH2, sinh năm 1959; vợ: Nguyễn Thị A, sinh năm 1990 (đã ly hôn); con: 03 con, con lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2015;

- Tiền án: Ngày 29/11/2022 bị Toà án nhân dân thị xã T, tỉnh Hà Nam xử phạt 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, chấp hành xong ngày 02/8/2023, chưa được xoá án tích;

- Tiền sự: Không;

- Nhân thân:

+ Ngày 27/7/2009 bị TAND huyện X, thành phố Hà Nội xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 04/6/2010, đã được xoá án tích;

+ Ngày 26/8/2021 bị Công an xã M, thị xã T, tỉnh Hà Nam xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” với số tiền 1.500.000 đồng, đã nộp ngày 27/8/2021.

Hiện đang tạm giữ tại: Trung tâm điều trị nghiện ma tuý và phục hồi chức năng tâm thần tỉnh Hà Nam; vắng mặt tại phiên họp (có Đơn xin vắng mặt).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn – Phó trưởng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thị xã T, tỉnh Hà Nam.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã T, tỉnh Hà Nam tham gia phiên họp: Bà Lê Thị Minh Hoa – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY

Theo hồ sơ và văn bản đề nghị của Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thị xã T, tỉnh Hà Nam đề nghị Toà án nhân dân thị xã T, tỉnh Hà Nam ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Văn D vì có hành vi vi phạm như sau:

Ngày 08/01/2024, Công an phường N, thị xã T, tỉnh Hà Nam nhận được đơn đề nghị đưa đi cai nghiện bắt buộc của bà Phạm Thị TH2, sinh năm 1959 đối với con trai bà là Bùi Văn D, sinh năm 1989, cùng nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường N, thị xã T, tỉnh Hà Nam. Ngày 16/01/2024, tại trụ sở Công an phường N, Bùi Văn D khai nhận ngày 14/01/2024 bản thân có sử dụng trái phép chất ma tuý bằng hình thức: Chích, loại ma tuý sử dụng: Heroine. Theo Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma tuý ngày 19/01/2024 của Trung tâm điều trị nghiện ma tuý và PHCN tâm thần tỉnh Hà Nam thì Bùi Văn D có nghiện ma tuý, loại ma tuý sử dụng: Heroine. UBND phường N đã ra Thông báo số 02/TB – UBND ngày 19/01/2024 về thời hạn đăng ký cai nghiện tự nguyện và điều trị các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế nhưng Bùi Văn D đã có đơn đề nghị không đăng ký cai nghiện tự nguyện, do đó UBND phường N lập Biên bản vi phạm về cai nghiện ma tuý tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma tuý và điều trị các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế ngày 22/01/2024. Cùng ngày, UBND phường N đã lập hồ sơ và ra Thông báo số 04/TB – UBND ngày 22/01/2024 về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Nghị định số 116/2021/NĐ – CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma tuý, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma tuý và quản lý sau cai nghiện.

Ngày 24/01/2024, Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thị xã T, tỉnh Hà Nam có văn bản số 34/ĐN – CNBB đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Văn D theo quy định của Luật xử lý hành chính năm 2013 và Luật phòng, chống ma tuý năm 2021.

Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thị xã T, tỉnh Hà Nam đề nghị đưa Bùi Văn D vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm điều trị nghiện ma tuý và phục hồi chức năng tâm thần tỉnh Hà Nam, thời hạn 24 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã T phát biểu ý kiến: Toà án nhân dân thị xã T và các cơ quan chức năng đã tiến hành đúng trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định của pháp luật. Đề nghị Toà án chấp nhận áp dụng biện pháp đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Văn D theo đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thị xã T.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc đã được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào lời trình bày, tranh luận tại phiên họp, Thẩm phán phiên họp nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Ngày 24/01/2024, Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thị xã T, tỉnh Hà Nam có văn bản số 34/ĐN – CNBB đề nghị xem xét đưa Bùi Văn D vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Do đó, vụ việc thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân thị xã T, tỉnh Hà Nam quy định tại khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2013, Luật phòng, chống ma tuý năm 2021 và khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh, thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân năm 2022.

Về thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Căn cứ Biên bản vi phạm về cai nghiện ma tuý tự nguyện, quản lý sau cai nghiện và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế ngày 22/01/2024 của UBND phường N thì Bùi Văn D có hành vi nghiện ma tuý nhưng không đăng ký cai nghiện ma tuý tự nguyện, tính đến thời điểm Toà án thụ lý hồ sơ và mở phiên họp, vụ việc còn thời hiệu luật định áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về thủ tục: Bùi Văn D đã được Toà án tống đạt các văn bản tố tụng và quyết định mở phiên họp theo đúng quy định của pháp luật, người bị đề nghị đã có đơn xin vắng mặt tại phiên họp nên Toà án tiến hành phiên họp theo quy định tại Điều 20 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân năm 2022.

Về nội dung: Căn cứ Biên bản vi phạm về cai nghiện ma tuý tự nguyện, quản lý sau cai nghiện và điều trị các chất dạng thuốc phiên bằng thuốc thay thế ngày 22/01/2024 của UBND phường N, Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma tuý ngày 19/01/2024 của Trung tâm điều trị nghiện ma tuý và PHCN tâm thần tỉnh Hà Nam cùng lời trình bày của Bùi Văn D, thể hiện Bùi Văn D có sử dụng chất ma tuý, nghiện ma tuý nhưng không đăng ký cai nghiện ma tuý tự nguyện.

Như vậy có đủ cơ sở để xác định Bùi Văn D có sử dụng ma tuý nhưng không đăng ký cai nghiện ma tuý tự nguyện. Xét thấy Bùi Văn D là người đã trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm dân sự, năng lực pháp luật hành chính nhưng có hành vi vi phạm pháp luật đó là: Là người nghiện ma tuý, sử dụng trái phép chất ma tuý nhưng không đăng ký cai nghiện ma tuý tự nguyện nên Bùi Văn D thuộc đối tượng cần thiết phải áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 32 Luật phòng, chống ma tuý. Do đó, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thị xã T căn cứ vào các quy định của pháp luật đề nghị Toà án nhân dân thị xã T áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Văn D là có cơ sở chấp nhận.

Về thời hạn chấp hành cai nghiện bắt buộc: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 3, Điều 9, Điều 10 và khoản 2 Điều 95 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2013, áp dụng biện pháp đưa Bùi Văn D vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng là phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và nhân thân của người bị đề nghị.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

- Điều 3, Điều 6, Điều 9, Điều 10, Điều 95, Điều 96, Điều 103, Điều 105 và Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2013.

- Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021; Nghị định 116/2021/NĐ - CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện.

- Điều 3, Điều 20, Điều 24, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét Quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân năm 2022.

1/ Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Bùi Văn D.

2/ Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày Bùi Văn D bị tạm giữ đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc là ngày 19/01/2024.

3/ Cơ sở tiếp nhận: Trung tâm điều trị ma túy và phục hồi chức năng tâm thần tỉnh Hà Nam. Trong thời gian cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho các cá nhân, tổ chức có liên quan biết.

4/ Người bị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính có quyền khiếu nại trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Quyết định của Tòa án, Phòng Lao động Thương binh và xã hội thị xã T có quyền kiến nghị trong thời hạn 05 ngày làm việc, Viện kiểm sát nhân dân thị xã T có quyền kháng nghị đối với Quyết định trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

5/ Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

6/ Cơ quan thi hành Quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thị xã T; Công an thị xã T, tỉnh Hà Nam phối hợp với Trung tâm điều trị ma túy và phục hồi chức năng tâm thần tỉnh Hà Nam có trách nhiệm thi hành quyết định này./.

Cỡ chữ