vanban.org

Quyết định 04/2023/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái Tuyên án 14/07/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị H về việc tuyên bố một người mất tích.

Tuyên bố: Anh Bùi Ngọc D, sinh năm 1996, hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Thôn 4, xã Hoà Cuông, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái mất tích. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Tuyên bố một người mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị H về việc tuyên bố một người mất tích.
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẤN YÊN - TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2023/QĐST-VDSTrấn Yên, ngày 14 tháng 7 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Tuấn Anh.

Thư ký phiên họp: Bà Đào Thu Thuỷ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trấn Yên tham gia phiên họp: Bà Phạm Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trấn Yên mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 01/2023/TLST-VDS ngày 08 tháng 02 năm 2023 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 04/2023/QĐST-VDS ngày 04 tháng 7 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Trần Thị H, sinh năm 1998.

Địa chỉ: Thôn 4, xã Hoà Cuông, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái (Có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Bùi Ngọc D, sinh năm 1996 (Vắng mặt)

Nơi cư trú cuối cùng: Thôn 4, xã Hoà Cuông, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.

2. Ông Bùi Văn D1, sinh năm 1962 (Có mặt)

3. Bà Trần Thị H1, sinh năm 1966 (Có mặt)

4. Cháu Bùi Thị Ánh D2, sinh năm 2017

Cùng địa chỉ: Thôn 4, xã Hoà Cuông, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.

Người đại diện hợp pháp của cháu Bùi Thị Ánh D2: Chị Trần Thị H (Có mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu, bản tự khai và tại phiên họp hôm nay, người yêu cầu Chị Trần Thị H trình bày:

Chị Trần Thị H và anh Bùi Ngọc D sinh ngày 08-02-1996, nơi cư trú cuối cùng: Thôn 4, xã Hoà Cuông, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái kết hôn ngày 22-6-2017, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Hoà Cuông, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái. Trong thời gian chung sống chị H và anh D có 01 con chung là cháu Bùi Thị Ánh D2, sinh ngày 09-9-2017 hiện đang ở cùng chị H. Vào ngày 11-10-2017, cầu Ngòi Thia sập do lũ quét, tại thời điểm đó anh D đi qua rơi xuống sông và mất tích. Sau khi nhận được tin báo, chị H cùng gia đình đã đến khu vực thị xã Nghĩa Lộ để tìm kiếm nhưng không thấy anh D, số điện thoại không liên lạc được. Đồng thời gia đình chị cũng thuê người lặn để tìm kiếm, phát tờ rơi nhưng đến nay vẫn không có tin tức gì của anh D. Vì vậy chị Trần Thị H yêu cầu Toà án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái tuyên bố anh Bùi Ngọc D mất tích.

Tại bản tự khai và tại phiên họp hôm nay, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Bùi Văn D1 và bà Trần Thị H1 trình bày:

Ông Bùi Văn D1 và bà Trần Thị H1 có con đẻ là anh Bùi Ngọc D, sinh ngày 08-02-1996, nơi cư trú cuối cùng: Thôn 5, xã Hoà Cuông, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái. Anh D có vợ là Trần Thị H, sinh năm 1998, có con là cháu Bùi Thị Ánh D2, sinh năm 2017 hiện đang ở cùng mẹ. Vào ngày 11-10-2017, cầu Ngòi Thia sập do lũ quét, tại thời điểm đó anh D đi qua rơi xuống sông và mất tích. Sau khi nhận được tin báo, ông D1 bà H1 cùng gia đình đã đến khu vực thị xã Nghĩa Lộ để tìm kiếm nhưng không thấy anh D, số điện thoại không liên lạc được. Đồng thời gia đình ông bà cũng thuê người lặn để tìm kiếm, phát tờ rơi nhưng đến nay vẫn không có tin tức gì của anh D. Nay, chị Trần Thị H yêu cầu Toà án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái tuyên bố anh Bùi Ngọc D mất tích, ông D1 và bà H1 xác nhận sự việc trên là có thật và cũng có nguyện vọng yêu cầu Toà án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái tuyên bố anh Bùi Ngọc D mất tích.

Ủy ban nhân dân xã Hoà Cuông và Công an xã Hoà Cuông, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái cũng xác nhận anh Bùi Ngọc D, sinh năm 1996, nơi cư trú cuối cùng: Thôn 4, xã Hoà Cuông, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái đã vắng mặt khỏi địa phương từ ngày 11 tháng 10 năm 2017 đến nay.

Toà án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái đã thông báo tìm kiếm anh Bùi Ngọc D theo quy định của pháp luật, cụ thể:

Báo Công lý các số 17, số 18, số 19 ra ngày 01, 03, và 08-3-2023 đăng tin tìm kiếm anh Bùi Ngọc D; Đài tiếng nói Việt Nam phát tin nhắn tìm anh Bùi Ngọc D vào lúc 17 giờ 30 phút các ngày 05, 06 và 07-3-2023 nhưng đến nay vẫn chưa có tin tức gì của anh Bùi Ngọc D.

Tại phiên họp: Chị Trần Thị H vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu tuyên bố anh Bùi Ngọc D mất tích.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự: Quá trình thụ lý, giải quyết việc dân sự và tại phiên họp, Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng được bảo đảm đúng quy định của pháp luật, yêu cầu của người yêu cầu là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật; đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 371, Điều 372, Điều 387, Điều 389 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 68 Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị H về việc yêu cầu tuyên bố anh Bùi Ngọc D, sinh năm 1996, có nơi cư trú cuối cùng: Thôn 4, xã Hòa Cuông, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái mất tích.

Về lệ phí: Chị Trần Thị H phải chịu lệ phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo, kháng nghị: Theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái nhận định:

Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền tố tụng: Chị Trần Thị H yêu cầu tòa án tuyên bố một người mất tích đối với anh Bùi Ngọc D là người có hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng trước khi mất tích là thôn 4, xã Hoà Cuông, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái. Căn cứ vào Điều 27, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.

Về nội dung: Anh Bùi Ngọc D đã vắng mặt tại nơi cư trú từ ngày 11 tháng 10 năm 2017 đến nay đã được chính quyền địa phương xác nhận. Trước khi yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Bùi Ngọc D mất tích, gia đình chị Trần Thị H đã nhiều lần tìm kiếm, thuê người lặn sông tìm, thông báo tờ rơi nhưng không có tin tức gì của anh D.

Tòa án nhân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 01/2023/QĐ-TA ngày 24/02/2023 và đã được thông báo trên Báo Công lý, Đài Tiếng nói Việt Nam. Đến nay đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày Báo, Đài phát thông báo lần đầu tiên, nhưng không có tin tức gì của anh Bùi Ngọc D. Vì vây căn cứ Điều 387 Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị H, tuyên bố anh Bùi Ngọc D mất tích.

Về lệ phí: Căn cứ Ðiều 149 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 1 Ðiều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. chị Trần Thị H phải chịu lệ phí dân sự sơ thẩm.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, các Điều 144, Điều 149, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 387, Điều 388 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị H về việc tuyên bố một người mất tích.

Tuyên bố: Anh Bùi Ngọc D, sinh năm 1996, hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Thôn 4, xã Hoà Cuông, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái mất tích.

2. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2022/0000299 ngày 08/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định hoặc kể từ ngày niêm yết.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ