- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Quyết định tuyên bố một người bị mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Phùng Ngọc T.
- Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 36 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 04/2023/QĐST-DS | A, ngày 31 tháng 3 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Bùi Duy Thạch
Thư ký phiên họp: Ông Ngô Trí Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng tham gia phiên họp: Bà Trương Thị Thanh Nhàn – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện A mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 69/2022/TLST- VDS ngày 18 tháng 11 năm 2023 về việc "Yêu cầu tuyên bố một người mất tích" theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 11/2022/QĐST-VDS ngày 23 tháng 3 năm 2023.
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Phùng Ngọc T; nơi cư trú: Xóm A, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; vắng mặt (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
- Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích: Chị Phạm Thị Huyền T; Quê quán, ĐKTT và nơi cư trú cuối cùng: Thôn K, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Trong đơn yêu cầu, trong quá trình tố tụng và tại phiên họp, người yêu cầu là anh Phùng Ngọc T trình bày: Ngày 03 tháng 02 năm 2011, anh Phùng Ngọc T và chị Phạm Thị Huyền T (Quê quán; ĐKTT và nơi cư trú cuối cùng: Thôn K, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng) có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng. Sau khi kết hôn, do mâu thuân nên vợ chồng đã sống ly thân với nhau, chị Phạm Thị Huyền T bỏ về chung sống cùng bố, mẹ đẻ ở thôn K, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng. Năm 2015, (không xác định được ngày, tháng cụ thể), chị Phạm Thị Huyền T đã bỏ đi biệt tích, không để lại địa chỉ; sau khi chị Phạm Thị Huyền T bỏ đi, anh Phùng Ngọc T đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng đều không có kết quả, không ai biết được tin tức gì xác thực chị Phạm Thị Huyền T còn sống hay đã chết, chị Phạm Thị Huyền T cũng không có lần nào trở về địa phương.
Nay để được ly hôn với chị Phạm Thị Huyền T, anh Phùng Ngọc T đề nghị Tòa án tuyên bố chị Phạm Thị Huyền T mất tích.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A phát biểu ý kiến khẳng định:
- Về việc tuân theo pháp luật về tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ việc và tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký và Người yêu cầu đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết yêu cầu của Người yêu cầu: Chị Phạm Thị Huyền T đã biệt tích từ tháng 01 năm 2020 (không rõ ngày cụ thể) đến nay, đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc chị Phạm Thị Huyền T còn sống hay đã chết nên đề nghị Tòa án căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự tuyên bố chị Phạm Thị Huyền T mất tích.
NHẬN ĐỊNH
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện A nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ việc: Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích có nơi cư trú cuối cùng tại thôn K, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết vụ việc thuộc Tòa án nhân dân huyện A.
Xét yêu cầu của Người yêu cầu: Mặc dù người yêu cầu là anh Phùng Ngọc T trình bày, chị Phạm Thị Huyền T đã bỏ đi biệt tích khỏi nơi cư trú cuối cùng là thôn K, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng từ năm 2015 nhưng căn cứ kết quả xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án xác định từ tháng 01 năm 2020 (không rõ ngày cụ thể), chị Phạm Thị Huyền T đã biệt tích đến nay. Sau khi thụ lý vụ việc, Tòa án đã ra quyết định thông báo tìm kiếm chị Phạm Thị Huyền T theo đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự; quá thời hạn thông báo của Tòa án nhưng vẫn không có tin tức gì xác thực việc chị Phạm Thị Huyền T còn sống hay đã chết. Chị Phạm Thị Huyền T đã biệt tích 02 năm liền trở lên nên căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự cần chấp nhận đơn yêu cầu của Người yêu cầu, tuyên bố chị Phạm Thị Huyền T mất tích.
Về lệ phí Tòa án: Anh Phùng Ngọc T phải chịu lệ phí Tòa án theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 3 Điều 27; điểm b khoản 2 Điều 39; các điều 370, 372, 387, 388 và 389 Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự; căn cứ các điều 5, 6, 36 và khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016,
- Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Phùng Ngọc T.
Tuyên bố chị Phạm Thị Huyền T (Quê quán, ĐKTT và nơi cư trú cuối cùng: Thôn K, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng) mất tích.
- Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Anh Phùng Ngọc T phải nộp 300.000đ tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm để sung vào công quỹ nhà nước. Anh Phùng Ngọc T đã nộp số tiền 300.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện A (theo Biên lai thu tiền số 0004327 ngày 18 tháng 11 năm 2022) nên không phải nộp nữa.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Người yêu cầu có quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND Tp. Hải Phòng; - VKSND huyện A; - Chi cục Thi hành án dân sự A; - UBND xã Đ; - Người yêu cầu; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT. | THẨM PHÁN Bùi Duy Thạch |