- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Chị Nguyễn Thị Bạch T yêu cầu tuyên bố chị Nguyễn Thị Kim L mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Nguyễn Thị Bạch Tuyết.
- Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 04/2023/QĐST-DS | Gò Dầu, ngày 16 tháng 3 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Võ Tuấn Anh.
Thư ký phiên họp: Ông Trần Xuân Son – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên họp: Ông Lương Bá Xanh – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 14/2022/TLST-DS ngày 25 tháng 10 năm 2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 03/2023/QĐST-DS ngày 06 tháng 3 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị Bạch T, sinh năm 1975. Địa chỉ: Ô 7/153A, khu phố T1, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
Anh Trần Quốc U, sinh năm 1982. Địa chỉ: Ấp A, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh là người đại diện theo ủy quyền của người yêu cầu (Văn bản ủy quyền ngày 23-9-2022) (Vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Căn cứ Đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 30-9-2022 và lời khai trong quá trình giải quyết, người yêu cầu giải quyết việc dân sự chị Nguyễn Thị Bạch T và người đại diện theo ủy quyền của chị T là anh Trần Quốc U trình bày:
Cha mẹ của chị Nguyễn Thị Bạch Tuyết là ông Nguyễn Văn M (sinh năm 1943, chết ngày 07-12-2010) và bà Trần Kim T1 (sinh năm 1950, chết ngày 02-4-2009). Cha mẹ của chị Tuyết chung sống có 04 người con gồm: Nguyễn Thị Bạch T là chị, Nguyễn Thành T2, Bùi Minh T3 và Nguyễn Thị Kim L (sinh năm 1988). Từ nhỏ chị Nguyễn Thị Kim L sống chung nhà với gia đình của chị T tại địa chỉ: Ô 7/16A, khu phố T1, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh mà chị L chưa có chồng, con và tài sản riêng gì cả. Đến năm 2018 chị L bỏ nhà đi cho đến nay không lần nào trở về, gia đình của chị T đã đi tìm nhiều nơi nhưng không có tin tức gì về việc chị L đang ở đâu, làm gì và còn sống hay đã chết. Nay chị T yêu cầu Tòa án tuyên bố chị L, sinh năm 1988, nơi cư trú cuối cùng: Ô 7/16A, khu T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh mất tích nhằm để làm thủ tục phân chia di sản thừa kế do cha mẹ chết để lại. Do chị L không có tài sản nên chị T không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của chị L.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh là ông Lương Bá Xanh phát biểu:
Về việc chấp hành pháp luật: Thẩm phán, Thư ký và đương sự chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Tòa án áp dụng Điều 68 của Bộ luật Dân sự: Chấp nhận yêu cầu của chị Tuyết, tuyên bố chị Loan mất tích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh nhận định:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
“Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 27 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích có nơi cư trú cuối cùng tại: Ô 7/16A, khu phố T1, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh nên vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh là phù hợp với điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự:
Anh U vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Tòa án giải quyết việc dân sự vắng mặt nên Thẩm phán vẫn tiến hành mở phiên họp vắng mặt anh U là phù hợp với khoản 2 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung yêu cầu Tòa án giải quyết:
Xét yêu cầu tuyên bố chị Nguyễn Thị Kim L mất tích thấy rằng:
Chị T trình bày chị Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1988 là em ruột của chị có nơi cư trú cuối cùng: Ô 7/16A, khu phố T1, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh và chị L không có chồng, con hay tài sản riêng. Từ năm 2018 cho đến nay chị L đã bỏ nhà đi biệt tích và không liên lạc gì với gia đình của chị. Gia đình của chị đã nhiều lần tìm kiếm nhưng cho đến nay đã khoảng 05 năm mà vẫn không có tin tức gì của chị L. Nay chị yêu cầu tuyên bố chị L mất tích để làm thủ tục phân chia di sản thừa kế do cha mẹ chết để lại.
Căn cứ vào kết quả xác minh đối với Trưởng khu phố T1, thị trấn G, huyện G và Công an thị trấn G, huyện G vào ngày 26-10-2022 cùng với một số người sinh sống tại địa phương gần với nhà của chị L đều thể hiện là chị L đã đi khỏi địa phương từ năm 2018 cho đến nay không trở về.
Ngày 01-11-2022 Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu đã ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số: 06/2022/QĐ-TA đối với chị L trên các phương tiện thông tin đại chúng. Cụ thể: Đăng thông báo tại Báo Công lý số 88 (947) ngày 04-11-2022, số 89 (948) ngày 08-11-2022, số 90 (949) ngày 11-11-2022; phát thông báo trên Đài Tiếng nói Việt Nam vào các ngày 07, 08, 09 của tháng 11-2022 và đăng thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án ngày 04-11-2022 nhưng cho đến nay vẫn không có tin tức gì về chị L.
Do chỉ xác định được thời điểm có tin tức cuối cùng của chị L là năm 2018 mà không xác định được cụ thể ngày, tháng nên căn cứ vào Điều 68 của Bộ luật Dân sự thì thời hạn xác định chị L biệt tích là ngày 01-01-2019. Cho nên, có đủ cơ sở để xác định chị L đã biệt tích 02 năm liền trở lên (từ ngày 01-01-2019) nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc chị L còn sống hay đã chết.
Từ những nhận định trên, xét thấy việc chị Tuyết yêu cầu tuyên bố chị Loan mất tích là có căn cứ nên Tòa án chấp nhận là phù hợp với Điều 68 của Bộ luật Dân sự và các điều 387, 388, 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về biện pháp quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích: Do chị T không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết là phù hợp với Điều 69 của Bộ luật Dân sự và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét toàn bộ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh là có căn cứ và phù hợp nên Tòa án chấp nhận.
Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:
Chị Tuyết là người yêu cầu nên chị Tuyết phải chịu lệ phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30-12-2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 2 Điều 367, các điều 387, 388, 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68, Điều 69 của Bộ luật Dân sự và khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30-12-2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Nguyễn Thị Bạch Tuyết.
Tuyên bố: Chị Nguyễn Thị Kim Loan, sinh năm 1988, nơi cư trú cuối cùng: Ô 7/16A, khu phố T1, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh mất tích từ ngày 01-01-2019.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:
Chị T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí mà chị Tuyết đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0024825 ngày 25-10-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận chị T đã nộp xong tiền lệ phí.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Các đương sự không có mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định giải quyết việc dân sự được thông báo, niêm yết.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
- Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án:
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Gò Dầu; - CC.THADS huyện G; - UBND Thị trấn G, - Đương sự; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Võ Tuấn Anh |