- Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Văn C"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xác định cha cho con của ông Phạm Văn C. Xác định ông Hồ B, sinh ngày 01/10/1933, địa chỉ tại Thôn 2, xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk là cha ruột của ông Phạm Văn C, sinh ngày 02/4/1969, địa chỉ tại Thôn 1, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
- Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 04/2022/QĐST-VHNGĐ Ngày 15-11-2022 V/v: Yêu cầu xác định cha cho con |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Chủ tọa phiên họp: Bà Phan Thị Dương Thanh - Thẩm phán.
Thư ký phiên họp: Bà Nông Thị Lường - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thùy Nguyên - Kiểm sát viên
Ngày 15 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc đã mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 04/2022/TLST-VHNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2022 về việc “Yêu cầu xác định cha cho con” theo Quyết định mở phiên họp số 04/2022/QĐST-VHNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc.
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Phạm Văn C, sinh ngày 02 tháng 4 năm 1969; (có mặt)
Địa chỉ: Thôn 1, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Hồ B, sinh ngày 01 tháng 10 năm 1933; (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn 2, xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
2. Bà Mai Thị N, sinh ngày 20 tháng 01 năm 1923; (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn 1, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu xác định cha cho con và tại phiên họp, ông Phạm Văn C trình bày: Tôi có mẹ là bà Mai Thị N, mẹ tôi có chung sống với cha tôi (ông Hồ B), nhưng do hoàn cảnh chiến tranh nên cha tôi phải tham gia cách mạng nên hai ông bà ly tán. Trước khi cha tôi ông Hồ B đi tham gia cách mạng thì mẹ ruột tôi bà Mai Thị N đang mang thai tôi, khi cha tôi tham gia cách mạng thì mẹ tôi không có tin tức gì của cha tôi nên nghĩ là cha tôi đã chết. Sau đó, mẹ tôi có quen biết và chung sống với ông Phạm Văn C1. Khi hết chiến tranh, hòa bình lập lại, mẹ tôi gặp lại cha tôi ông Hồ B, mẹ tôi mới nhận ra là cha ruột tôi vẫn còn sống, khi đó mẹ tôi bà Mai Thị N mới nói rõ với ông Hồ B tôi chính là con ruột của hai người. Lúc này thì cha ruột tôi ông Hồ B đã lấy vợ và đang chung sống với bà Nguyễn Thị B làm vợ 2 của cha tôi.
Khi tôi còn nhỏ, trước khi mẹ tôi đi khai sinh cho tôi, và để thuận tiện cho việc khai sinh và các thủ tục, giấy tờ liên quan và để tiện cho việc chăm sóc tôi nên mẹ tôi và ông Phạm Văn C1 đã thỏa thuận với mẹ tôi để tôi mang họ cha trên giấy khai sinh của ông C1 là họ Phạm, do đó tên cha của tôi trên giấy khai sinh là ông Phạm Văn C1.
Hiện nay, ông Phạm Văn C1 đã chết, nhưng trước khi chết, ông đã biết và công nhận tôi không phải là con đẻ của ông và đã có thỏa thuận và đồng ý và nói với mẹ tôi và cha ruột của tôi là ông Hồ B để tôi nhận lại cha ruột là ông Hồ B, thay đổi giấy tờ khai sinh để mang họ của cha tôi là họ Hồ. Nhưng vì điều kiện mẹ tôi bà Mai Thị N, và ông Hồ B đã có gia đình, vợ, con khác nên nếu nhận tôi như vậy sợ ảnh hưởng đến hạnh phúc đổ vỡ gia đình của các bên nên cha ruột tôi ông Hồ B chưa làm thủ tục để nhận tôi là con ruột của ông.
Nay cha tôi là ông Hồ B và bà Mai Thị N là mẹ ruột tôi đã thừa nhận tôi là con đẻ của ông Hồ B và mẹ tôi là Mai Thị N. Do đó tôi đã có đơn đề nghị Tòa án: Xác định và công nhận cho tôi là Phạm Văn C, sinh ngày 02/04/1969 là con ruột của cha tôi là Hồ B, sinh ngày 01/10/1933 theo đúng quy định của pháp luật. Ngoài ra tôi không có yêu cầu gì thêm.
Quá trình giải quyết việc dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hồ B, bà Mai Thị N khai: Đề nghị Tòa án: Xác định và công nhận cho ông Phạm Văn C, sinh ngày 02/04/1969 là con ruột của ông Hồ B, sinh ngày 01/10/1933 theo đúng quy định của pháp luật. Căn cứ pháp lý là dựa vào văn bản thỏa thuận xác định người cha cho con kèm Kết quả giám định ADN giữa ông Hồ B với ông Phạm Văn C. Ngoài ra tôi không có ý kiến gì thêm.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết việc dân sự:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và người tham gia tố tụng: Đã chấp hành đầy đủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Đề nghị Tòa án áp dụng khoản 10 Điều 29, Điều 369, Điều 370 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 88, Điều 90, Điều 101, Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Văn C về việc xác định cha cho con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Ông Phạm Văn C yêu cầu Tòa án xác định cha cho con. Đây là yêu cầu về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 10 Điều 29 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Hồ B cư trú tại huyện Krông Pắc nên Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Ông Hồ B và bà Mai Thị N có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên họp giải quyết việc hôn nhân gia đình. Căn cứ khoản 2 Điều 369 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc vẫn tiến hành phiên họp.
Về yêu cầu của đương sự: Căn cứ đơn yêu cầu giải quyết ngày 18-10-2022 của ông Phạm Văn C về việc yêu cầu Tòa án xác định cha cho con và các chứng cứ có trong hồ sơ. Để có cơ sở cho việc giải quyết vụ việc, ngoài văn bản thỏa thuận do ông Hồ B, bà Mai Thị N, ông Phạm Văn C cung cấp cho Tòa án thì sau khi ông Phạm Văn C nộp đơn đến Tòa án thì vào ngày 26/10/2022 ông Phạm Văn C và ông Hồ B đã làm kết quả xét nghiệm ADN tại Công ty TNHH MTV TM VÀ DV DNA TESTINGS để cung cấp cho Tòa án.
Tại phiếu kết quả phân tích ADN ngày 01/11/2022 của Công ty TNHH MTV TM VÀ DV DNA TESTINGS đã kết luận: ông Hồ B và ông Phạm Văn C có cùng huyết thống: cha-con với độ tin cậy > 99,9999%.
Như vậy, căn cứ vào kết quả phân tích ADN nêu trên và văn bản thỏa thuận do ông Hồ B, bà Mai Thị N, ông Phạm Văn C cung cấp cho Tòa án thì có cơ sở để xác định ông Phạm Văn C là con đẻ của ông Hồ B. Do đó, ông Phạm Văn C yêu cầu Tòa án xác định cha cho con là có cơ sở chấp nhận.
Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc và yêu cầu của ông Phạm Văn C về việc xác định cha cho con là hoàn toàn có cơ sở pháp luật nên được chấp nhận.
Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Phạm Văn C phải chịu lệ phí Việc dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 10 Điều 29, khoản 2 Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 88, Điều 90, Điều 101, Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Áp dụng Điều 6, Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu xác định cha cho con của ông Phạm Văn C. Xác định ông Hồ B, sinh ngày 01/10/1933, địa chỉ tại Thôn 2, xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk là cha ruột của ông Phạm Văn C, sinh ngày 02/4/1969, địa chỉ tại Thôn 1, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Phạm Văn C phải chịu lệ phí 300.000đồng lệ phí Việc dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng tiền tạm ứng lệ phí mà ông đã nộp tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0016518 ngày 13/10/2022.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
- Ông Phạm Văn C có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
- Ông Hồ B, bà Mai Thị N có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định giải quyết việc dân sự được thông báo, niêm yết.
- Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Krông Pắc; - THADS huyện Krông Pắc; - Người yêu cầu; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ, VT. | THẨM PHÁN (Đã ký) Phan Thị Dương Thanh |