- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Anh Trần Văn T yêu cầu huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Trần Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 372 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Nghị; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 04/2022/QĐST-VDS | N, ngày 08 tháng 6 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người là mất tích
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Phạm Hùng Phương.
Thư ký phiên họp: Ông Vũ Tuấn Tú – Thư ký Toà án nhân dân huyện N tỉnh Nam Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên họp: Bà Hoàng Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 08/6/2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện N mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 06/2022/TB - TLVDS ngày 11 tháng 5 năm 2022 về việc yêu cầu huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người là mất tích theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 04/2022/QĐST-VDS ngày 02/6/2022 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
* Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Trần Văn T – Sinh năm 1978;
Địa chỉ: Xóm Phương Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định, (Anh T có đơn xin vắng mặt).
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Thị H, sinh năm 1980;
Địa chỉ: Xóm Phương Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định, (Chị H có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại phiên họp người yêu cầu giải quyết việc dân sự anh Trần Văn T vắng mặt (Có đơn xin giải quyết vắng mặt) nhưng trong bản tự khai cũng như đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 09/5/2022 thể hiện: Anh và chị Trần Thị H kết hôn với nhau vào tháng 01/1999 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Sau khi cưới vợ chồng anh sống hòa thuận hạnh phúc. Đến năm 2016 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm không hiểu nhau. Sau đó đến tháng 01/2018 thì anh bỏ đi khỏi địa phương cắt đứt mọi liên lạc với gia đình. Chị H và gia đình đã nhiều lần tìm kiếm nhưng không có tin tức địa chỉ gì của anh. Chị H đã đề nghị Tòa án nhân dân huyện N tuyên bố anh mất tích. Tòa án nhân dân huyện N đã thông báo trên báo Công lý và Đài tiếng nói Việt Nam tìm kiếm anh, hết thời hạn nhắn tìm nhưng vẫn không thấy anh trở về nên Toà án nhân dân huyện N tuyên bố anh mất tích theo Quyết định giải quyết việc dân sự số 02/2022/QĐST – VDS ngày 22 tháng 4 năm 2022 tuyên bố anh mất tích. Đến tháng 5/2022 anh đã trở về địa phương. Nay anh đề nghị Toà án nhân dân huyện N huỷ bỏ Quyết định số 02/2022/QĐST – VDS ngày 22/4/2022 về việc tuyên bố anh mất tích.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện N phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết việc dân sự từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp hôm nay Thẩm phán thụ lý giải quyết cũng như thư ký phiên họp đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Toà án nhân dân huyện N căn cứ Điều 70 Bộ luật Dân sự, các Điều 372; Điều 391; Điều 395 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban tH vụ Quốc hội: Chấp nhận yêu cầu của anh Trần Văn T huỷ bỏ Quyết định tuyên bố một người là mất tích số 02/2022/QĐST – VDS ngày 22/4/2022 của Toà án nhân dân huyện N. Về lệ phí dân sự sơ thẩm: Đề nghị tuyên theo quy định.
NHẬN ĐỊNH:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện N nhận định:
Về tố tụng: Anh Trần Văn T yêu cầu Tòa án nhân dân huyện N huỷ bỏ Quyết định tuyên bố một người là mất tích, nơi cư trú của anh T là Xóm Phương Đ, xã N, huyện N tỉnh Nam Định do đó căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, đây là yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Nam Định.
Tại phiên họp vắng mặt anh Trần Văn T và chị Trần Thị H nhưng anh T và chị H đã có đơn xin giải quyết vắng mặt do đó căn cứ Điều 367 của Bộ luật Tố tụng Dân sự toà án vẫn tiến hành phiên họp.
Về nội dung: Anh Trần Văn T và chị Trần Thị H đăng ký kết hôn tại UBND xã N vào tháng 01/1999. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc. Đến năm 2016 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm không hiểu nhau. Sau đó đến tháng 01/2008 thì anh T bỏ đi khỏi địa phương cắt đứt mọi liên lạc với gia đình. Chị H và gia đình đã nhiều lần tìm kiếm nhưng không có tin tức địa chỉ gì của anh T. Chị H đã đề nghị Tòa án nhân dân huyện N tuyên bố anh T mất tích. Tòa án nhân dân huyện N đã thông báo tìm kiếm anh T trên báo Công lý và Đài tiếng nói Việt Nam, hết thời hạn nhắn tìm nhưng vẫn không thấy anh T trở về nên Toà án nhân dân huyện N tuyên bố anh T mất tích theo Quyết định giải quyết việc dân sự số 02/2022/QĐST – VDS ngày 22 tháng 4 năm 2022 tuyên bố anh Trần Văn T mất tích. Nay anh Trần Văn T đã trở về địa phương, được Ủy ban nhân dân xã N xác nhận và anh T có đơn yêu cầu huỷ Quyết định giải quyết việc dân sự số 02/2022/QĐST – VDS của Toà án nhân dân huyện N tuyên bố anh Trần Văn T mất tích. Vì vậy, căn cứ vào Điều 70 Bộ luật Dân sự, Tòa án chấp nhận yêu cầu của anh Trần Văn T về việc Huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người là mất tích đối với anh Trần Văn T là đúng pháp luật.
Về lệ phí dân sự sơ thẩm: Anh Trần Văn T phải nộp theo quy định.
Thấy đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện N về việc giải quyết việc dân sự là phù hợp.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 27, Điều 35, Điều 39, Điều 149; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 390 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 70 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Điều 6; Điều 37 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban tH vụ Quốc hội;
1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Trần Văn T.
Huỷ bỏ quyết định giải quyết việc dân sự số 02/2022/QĐST – VDS ngày 22/4/2022 của Toà án nhân dân huyện N về việc tuyên bố một người là mất tích đối với anh Trần Văn T, sinh năm 1978; Địa chỉ: Xóm Phương Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.
2. Lệ phí dân sự sơ thẩm: Anh Trần Văn T phải nộp 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí dân sự sơ thẩm anh Trần Văn T đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0000702 ngày 11 tháng 5 năm 2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện N, anh Trần Văn T đã nộp đủ lệ phí dân sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Anh Trần Văn T, chị Trần Thị H vắng mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày tính từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Trong trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành dân sự.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh ; - VKSND huyện; - Chi cục THADS huyện; - Đương sự. - UBND xã N; - Lưu VP, HS. | THẨM PHÁN (Đã ký) Phạm Hùng Phương |