- Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Hoàng Như Q yêu cầu xác định cha cho cháu Hoàng Minh K"
- Tòa quyết gì? Về yêu cầu xác định cha cho con: Chấp nhận yêu cầu của chị Hoàng Như Q: Xác định anh Nguyễn Thanh G, sinh năm 2001 (đã chết năm 2020); địa chỉ nơi cư trú trước khi chết: Tổ dân phố Phố C1, thị trấn S, huyện S, tỉnh Lào Cai là cha đẻ của con trai chị Hoàng Như Q là cháu Hoàng Minh…
- Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| __________________________________ Số: 04/2022/QĐST-HNGĐ | S, ngày 28 tháng 7 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu xác định cha cho con
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S, TỈNH LÀO CAI
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Sầm Thị Tươi.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân
huyện S, tỉnh Lào Cai
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh Lào Cai tham gia
phiên họp: Bà Dương Thị Hồng Luận - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Lào Cai mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 37/2022/TLST-HNGĐ ngày 16/6/2022 về việc “Yêu cầu xác định cha cho con” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 04/2022/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Hoàng Như Q, năm sinh 2000
Địa chỉ nơi cư trú: Tổ dân phố P, thị trấn S1, huyện S, tỉnh Lào Cai – Vắng mặt (Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Mạnh C, năm sinh 1973
Địa chỉ nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố Phú Cường 2, thị trấn Phố Lu, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai;
Địa chỉ nơi tạm trú: Tổ dân phố Phố C1, thị trấn S1, huyện S, tỉnh Lào Cai – Vắng mặt (Có ý kiến đề nghị giải quyết vắng mặt).
2. Bà Nguyễn Thị Thanh N, năm sinh 1976
Địa chỉ nơi cư trú: Tổ dân phố Phố C1, thị trấn S1, huyện S, tỉnh Lào Cai – Vắng mặt (Có ý kiến đề nghị giải quyết vắng mặt).
- Người làm chứng:
1. Ông Hoàng Đình T, năm sinh 1972;
Địa chỉ nơi cư trú: Tổ dân phố P, thị trấn S1, huyện S, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt (Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
2. Bà Lương Thị Đ, năm sinh 1976;
Địa chỉ nơi cư trú: Tổ dân phố P, thị trấn S1, huyện S, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt (Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
3. Ông La Xuân C1, sinh năm 1971;
Địa chỉ nơi cư trú: Tổ dân phố Phố U, thị trấn S1, huyện S, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt (Có ý kiến đề nghị giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và bản tự khai ngày 16/6/2022, người yêu cầu giải quyết việc dân sự chị Hoàng Như Q trình bày:
Chị Hoàng Như Q yêu cầu Tòa án giải quyết xác định anh Nguyễn Thanh G, sinh năm 2001 (đã chết năm 2020); địa chỉ nơi cư trú trước khi chết: Tổ dân phố Phố C1, thị trấn S, huyện S, tỉnh Lào Cai là cha đẻ của con trai chị Hoàng Như Q là cháu Hoàng Minh K, sinh ngày 12/10/2020; địa chỉ nơi cư trú: Tổ dân phố P, thị trấn S, huyện S, tỉnh Lào Cai.
Trước đây, chị Hoàng Như Q và anh Nguyễn Thanh G khi còn sống đã tự tìm hiểu, yêu nhau và tự nguyện về chung sống với nhau như vợ chồng từ tháng 01/2020 nhưng chưa đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vì thời điểm đó anh G chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn; trong thời gian chung sống với nhau chị Hoàng Như Q đã mang thai cháu Hoàng Minh K với anh Nguyễn Thanh G. Ngày 05/3/2020, chị Q và anh G được gia đình tổ chức đám cưới; địa điểm tổ chức đám cưới tại sân vận động trung tâm của huyện S tại thị trấn S1. Khi tổ chức lễ cưới cho anh chị thì có họ hàng hai bên gia đình, hàng xóm tham dự, chứng kiến. Do anh G chưa đủ tuổi kết hôn mà gia đình đã tổ chức đám cưới cho anh chị nên ngày 27/4/2020 gia đình bố mẹ đẻ của anh G đã bị UBND thị trấn S ra Quyết định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, bố mẹ anh G đã nộp phạt xong. Sau khi cưới, anh chị về ở cùng với bố mẹ đẻ của anh G tại tổ dân phố Phố C1, thị trấn S1. Đến ngày 11/5/2020, anh Nguyễn Thanh G bị bệnh hiểm nghèo đã chết, lúc đó chị Q đang mang thai con chung của anh chị, đến ngày 12/10/2020, chị Q sinh con, do chưa đăng ký kết hôn nên cháu đã đăng ký khai sinh theo họ mẹ và cháu được khai sinh là Hoàng Minh K, sinh ngày 12/10/2020. Thực tế mặc dù chưa đăng ký kết hôn với nhau nhưng chị Q và anh G đã là con rể, con dâu trong gia đình hai bên. Cháu Hoàng Minh K sinh ra đều được ông bà nội, ông bà ngoại chăm sóc, yêu thương từ đó đến nay.
Nay chị Q có nguyện vọng xác nhận anh Nguyễn Thanh G là cha đẻ của cháu Hoàng Minh K theo quy định của pháp luật để cháu K có bố và cháu được mang họ Nguyễn của bố.
Kèm theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, chị Hoàng Như Q đã giao nộp các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.
Bản kết luận giám định pháp y về ADN số 296/22/TC-ADN ngày 01 tháng 7 năm 2022 của Viện pháp y quốc gia kết luận: Cháu Hoàng Minh K có quan hệ huyết thống theo dòng cha với ông Nguyễn Mạnh C.
Tại bản tự khai ngày 17/6/2022, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Thanh N và ông Nguyễn Mạnh C là cha mẹ đẻ của anh Nguyễn Thanh G đều xác nhận anh Nguyễn Thanh G là cha đẻ của cháu Hoàng Minh K là đúng và hoàn toàn nhất trí với yêu cầu của chị Hoàng Như Q về việc yêu cầu Tòa án xác định anh G là cha đẻ của cháu K. Bà N, ông C cùng đề nghị Tòa án giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
Người làm chứng ông Hoàng Đình T và bà Lương Thị Đ là cha mẹ đẻ của chị Hoàng Như Q cùng với ông La Xuân C1 đều xác nhận nội dung đơn yêu cầu của chị Q là hoàn toàn đúng; anh Nguyễn Thanh G là cha đẻ của cháu Hoàng Minh K.
Ý kiến của kiểm sát viên tham gia phiên họp:
Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của BLTTDS về thẩm quyền thụ lý đúng quy định tại Điều 363 Bộ luật TTDS; gửi thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát đầy đủ. Qua kiểm sát việc thụ lý, giải quyết việc dân sự cho thấy: Thẩm phán đã tiến hành lập hồ sơ đầy đủ đúng theo quy định tại Điều 363 BLTTDS, gửi thông báo thụ lý cho VKS có đầy đủ nội dung và đúng thời hạn quy định tại Điều 365 BLTTDS, chuyển hồ sơ cho VKS nghiên cứu đảm bảo thời gian theo quy định của pháp luật, yêu cầu đương sự giao nộp tài liệu chứng cứ cho Toà án đầy đủ, kịp thời. Thời hạn giải quyết đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình tiến hành tố tụng theo đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự.
Thư ký được phân công đã thực hiện đúng quy định Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự.
Đương sự thực hiện việc giao nộp chứng cứ cho Toà án kịp thời, được Tòa án tống đạt các thông báo, thủ tục tố tụng đầy đủ, thực hiện các quyền và nghĩa vụ đầy đủ theo quy định tại điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.
Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án và các quy định pháp luật, nhận thấy:
Chị Hoàng Như Q và anh Nguyễn Thanh G khi còn sống đã tự tìm hiểu nhau, yêu nhau và tự nguyện về chung sống như vợ chồng từ tháng 01/2020 nhưng chưa đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vì thời điểm đó anh G chưa đủ tuổi. Trong thời gian chung sống chị Q đã mang thai cháu Hoàng Minh K với anh Nguyễn Thanh G. Ngày 05/3/2020 anh chị được gia đình tổ chức đám cưới tại sân vận động huyện S. Khi tổ chức lễ cưới cho anh chị, đều có họ hàng hai bên gia đình, hàng xóm tham dự, chứng kiến. Do anh G chưa đủ tuổi kết hôn nên ngày 27/4/2020 gia đình bố mẹ đẻ của anh G đã bị UBND thị trấn S1 ra Quyết định xử phạt VPHC trong lĩnh vực hôn nhân gia đình, gia đình anh G đã nộp phạt. Sau khi cưới xong, anh chị về ở cùng với bố mẹ đẻ của anh G tại tổ dân phố Phố C1, thị trấn S1, huyện S, tỉnh Lào Cai. Đến ngày 11/5/2020, anh G bị bệnh hiểm nghèo nên đã mất, lúc đó chị Q đang mang thai con của anh G. Ngày 12/10/2020 chị Q sinh con, nhưng do chưa đăng ký kết hôn nên chị Q đã đăng ký khai sinh con theo họ của chị Q, cháu được khai sinh là Hoàng Minh K. Mặc dù chưa đăng ký kết hôn với nhau nhưng chị Q và anh G đã là con rể, con dâu của gia đình 2 bên. Cháu K đều được hai bên gia đình yêu thương, chăm sóc.
Căn cứ vào lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai của những người làm chứng cũng như Bản kết luận giám định pháp y về ADN của Viện giám định pháp y Quốc gia Viện kiểm sát nhân dân huyện S xét thấy nội dung đơn yêu cầu của chị Hoàng Như Q là có cơ sở nên cần được chấp nhận.
Từ những phân tích trên đề nghị Tòa án nhân dân huyện S áp dụng: Điều 88, Điều 90, Điều 101, Điều 102 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Điều 29, Điều 39, Điều 149, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372 Bộ luật TTDS năm 2015, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án quyết định theo hướng:
1. Chấp nhận yêu cầu xác định cha cho con của chị Hoàng Như Q: Xác định anh Nguyễn Thanh G (sinh năm 2001) đã chết năm 2020, nơi cư trú trước khi chết: Tổ dân phố Phố C1, thị trấn S1, huyện S Cai, tỉnh Lào Cai là cha đẻ của cháu Hoàng Minh K, sinh ngày 12/10/2020, địa chỉ nơi cư trú: Tổ dân phố P, thị trấn S1, huyện S, tỉnh Lào Cai.
2. Về lệ phí và quyền kháng cáo: Quyết định lệ phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện S nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Sau khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, Tòa án đã thực hiện đúng các quy định về thủ tục giải quyết việc dân sự. Sau khi Tòa án ra Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự, thì người yêu cầu giải quyết việc dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên và người làm chứng đều có đơn, ý kiến đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, nên Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt họ theo đúng quy định tại khoản 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về yêu cầu xác định cha cho con: Kèm theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, người yêu cầu đã nộp các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp; trong đó trích lục khai sinh của cháu Hoàng Minh K, sinh ngày 12/10/2020 ghi họ tên người mẹ là Hoàng Như Q; để trống phần họ tên của người cha; Giấy khai sinh của anh Nguyễn Thanh G ghi cha là ông Nguyễn Mạnh C và mẹ là bà Nguyễn Thị Thanh N; trích lục khai tử ghi anh Nguyễn Thanh G chết ngày 11/5/2020; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình số 40/QĐ-UBND ngày 27/4/2020 của Ủy ban nhân dân thị trấn S, huyện S đã xử phạt ông Nguyễn Mạnh C về hành vi vi phạm hành chính tổ chức tảo hôn cho người chưa đủ tuổi kết hôn; cha mẹ đẻ của chị Q là ông Hoàng Đình T, bà Lương Thị Đ cùng với đại diện họ nhà trai tại lễ cưới của chị Q, anh G đều xác nhận nội dung trình bày của chị Q yêu cầu xác nhận anh G là cha đẻ của cháu K là hoàn toàn đúng phù hợp với Kết luận giám định pháp y về ADN số 296/22/TC-ADN ngày 01 tháng 7 năm 2022 của Viện pháp y quốc gia kết luận: Cháu Hoàng Minh K có quan hệ huyết thống theo dòng cha với ông Nguyễn Mạnh C. Do đó đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu của chị Hoàng Như Q, xác định anh Nguyễn Thanh G, sinh năm 2001 (đã chết năm 2020); địa chỉ nơi cư trú trước khi chết: Tổ dân phố Phố C1, thị trấn S, huyện S, tỉnh Lào Cai là cha đẻ của con trai chị Hoàng Như Q cháu Hoàng Minh K, sinh ngày 12/10/2020; địa chỉ nơi cư trú: Tổ dân phố P, thị trấn S, huyện S, tỉnh Lào Cai.
Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Hoàng Như Q phải chịu lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 29, 39, 149, 369, 370, 371, 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 88, 90, 101, 102 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 6, Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Về yêu cầu xác định cha cho con: Chấp nhận yêu cầu của chị Hoàng Như Q: Xác định anh Nguyễn Thanh G, sinh năm 2001 (đã chết năm 2020); địa chỉ nơi cư trú trước khi chết: Tổ dân phố Phố C1, thị trấn S, huyện S, tỉnh Lào Cai là cha đẻ của con trai chị Hoàng Như Q là cháu Hoàng Minh K, sinh ngày 12/10/2020; địa chỉ nơi cư trú: Tổ dân phố P, thị trấn S, huyện S, tỉnh Lào Cai.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Hoàng Như Q phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí mà chị Hoàng Như Q đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006925 ngày 16/6/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện S, tỉnh Lào Cai.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND huyện S (2); - Người yêu cầu giải quyết việc dân sự; - CCTHADS huyện S; - UBND TT S, H.S, T. Lào Cai; - Lưu: HSVDS, THS (3). | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) Sầm Thị Tươi |