- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Phạm Văn Phúc – Nguyễn Thị Khuyên"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người mất tích của ông Phạm Văn P đối với bà Hoàng Thị K. Tuyên bố bà Hoàng Thị K, sinh năm: 1986, nơi cư trú cuối cùng: tổ 17, ấp 3, xã Tam An, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai mất tích.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 04/2022/QĐST-DS. | Long Thành, ngày 21 tháng 06 năm 2022. |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu tuyên bố một người mất tích
Với thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Hữu Ngọc.
Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Hoài Diễm - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên họp: Ông Lê Viết Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 06 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 229/2021/TLST-DS ngày 13 tháng 12 năm 2021 về yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 514/2022/QĐST-DS ngày 06 tháng 6 năm 2022.
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Phạm Văn P, sinh năm 1979
Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hoàng Thị K, sinh năm 1986
Nơi cư trú cuối cùng: Tổ M, Ấp B, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu ngày 24 tháng 11 năm 2021 và bản tự khai, ông Phạm Văn P trình bày:
Ông Phạm Văn P và bà Hoàng Thị K là vợ chồng chung sống với nhau có đăng ký kết hôn vào năm 2004. Trong quá trình cung sống giữa vợ chồng có xảy ra nhiều mâu thuẫn. Đến năm 2018, bà K bỏ nhà đi, từ đó đến nay ông không thể liên lạc được với bà K, mặc dù ông đã nhiều lần tìm kiếm cũng như đăng tin tìm kiếm trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng không có kết quả. Do tình cảm vợ chồng không còn nên ông yêu cầu Tòa án tuyên bố bà K mất tích để ông làm thủ tục ly hôn với bà K.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự, đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai nhận định:
Về thẩm quyền: Ông Phạm Văn P yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Hoàng Thị K mất tích, đây là yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 3 Điều 27 Bộ luật tố tụng dân sự và yêu cầu trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ông Phạm Văn P có đơn đề nghị Tòa án giải quyết việc dân sự vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án chấp nhận.
Căn cứ vào xác nhận của Công an xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai thể hiện bà Hoàng Thị K có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ M, ấp B, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai nhưng từ ngày 23/12/2018 đã không còn sinh sống tại địa phương, không rõ bà K hiện đang sinh sống ở đâu. Qua kết quả xác minh thể hiện nơi cư trú cuối cùng của bà K tại tổ M, ấp B, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Tòa án nhân dân huyện Long Thành đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với bà K. Nhắn tin tìm kiếm bà K trên đài Tiếng nói Việt Nam cơ quan thường trú tại Thành phố Hồ Chí Minh vào các ngày 17, 18 và 19 tháng 01 năm 2022. Đăng trên báo thanh niên các số 11 ngày 11/01/2022, số 12 ngày 12/01/2022 và số 13 ngày 13/01/2022. Đã hết 04 tháng kể từ khi thông báo tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức gì về bà Hoàng Thị K. Như vậy, có đủ cơ sở xác định bà Hoàng Thị K biệt tích 02 năm liền, không xác định được nơi sinh sống cụ thể của bà Hoàng Thị K hiện ở đâu theo quy định tại Điều 68 Bộ luật dân sự và Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự
Từ những phân tích trên, xét thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Văn P về việc yêu cầu tuyên bố bà Hoàng Thị K mất tích theo quy định tại Điều 68 Bộ luật dân sự và Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và thư ký tiến hành tố tụng theo đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ được thực hiện đầy đủ, thời hạn chuẩn bị phiên họp, hồ sơ chuyển cho Viện kiểm sát đúng thời hạn, thời hạn tố tụng được bảo đảm từ khi thụ lý đến khi tiền hành mở phiên họp, quyết định được tống đạt hợp lệ. Người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.
Về nội dung vụ việc: Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ, lời trình bày của đương sự tại phiên họp đã có đủ cơ sở xác định bà Hoàng Thị K biệt tích 02 năm liền, không xác định được nơi sinh sống cụ thể của bà Hoàng Thị K hiện ở đâu theo quy định tại Điều 68 Bộ luật dân sự và Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Chủ tọa phiên họp chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Văn P về việc yêu cầu tuyên bố bà Hoàng Thị K mất tích.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ việc dân sự.
Về lệ phí: Ông Phạm Văn P phải chịu lệ phí sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 388; Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 68 Bộ luật dân sự.
Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người mất tích của ông Phạm Văn P đối với bà Hoàng Thị K. Tuyên bố bà Hoàng Thị K, sinh năm: 1986, nơi cư trú cuối cùng: tổ 17, ấp 3, xã Tam An, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai mất tích.
2. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Phạm Văn P phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng lệ phí sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000(Ba trăm nghìn) đồng ông P đã nộp theo Biên lai thu số 0005017 ngày 09/12/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành (đã nộp xong).
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Đương sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết.
Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh. - VKSND huyện. - THA huyện. - Đương sự. - Lưu. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Hữu Ngọc |