- Tranh chấp gì? Y/c thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó — án dân sự — "Quyết định giải quyết việc dân sự về việc "Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú""
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông P về việc: “Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” đối với bà H, sinh năm 1971.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 04/2022/QĐDS-ST | Long Khánh, ngày 25 tháng 4 năm 2022. |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Đồng Thị Hương.
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Phi Hải, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên họp: Ông Phạm Văn Bình, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai, mở phiên họp công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 33/2022/TLST-VDS ngày 25 tháng 3 năm 2022 về yêu cầu “Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm số: 35/2022/QĐST-VDS ngày 05 tháng 4 năm 2022.
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông P, sinh năm 1972. Nơi cư trú: Tổ 27, khu phố VB, phường BV, thành phố K, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền, nghĩa vụ liên quan: Bà H, sinh năm 1971. Địa chỉ cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Tổ 28, khu phố VB, phường BV, thành phố K, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 24/3/2022, lời khai trong quá trình chuẩn bị xét đơn yêu cầu cũng như tại phiên họp, người yêu cầu giải quyết việc dân sự ông P trình bày:
Ông P và bà H, sinh năm 1971. Địa chỉ cư trú: Tổ 28, khu phố VB, phường BV, thành phố K, Đồng Nai là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủỷ ban nhân dân xã Bảo Vinh, huyện Long Khánh (nay là phường Bảo Vinh, thành phố Long Khánh) tỉnh Đồng Nai vào năm 1995. Quá trình sống chung không có con chung, tài sản chung và không có nợ chung. Đến năm 2015, thì bà H bỏ nhà đi khỏi địa phương, từ đó đến nay không trở về và cũng không liên lạc gì với ông P. Mặc dù, ông P đã tìm mọi cách để tìm kiếm bà H nhưng không có kết quả.
Theo ông P, bà H có liên lạc với gia đình của bà tại tổ 28, khu phố VB, phường BV, thành phố K, tỉnh Đồng Nai nhưng khi ông đến hỏi thăm tin tức của vợ thì gia đình bà H nói không biết hiện nay bà H đang làm gì, ở đâu. Có lúc gia đình bà H nói bà H đang ở Bàu Cá, lúc thì Bàu Trâm, Bình Dương, Miền Tây..., ông P đã tìm mọi cách để liên lạc và tìm kiếm thông tin địa chỉ của bà H nhưng đến nay vẫn không có tin tức gì. Nay ông P đã lớn tuổi và muốn ly hôn với bà H. Do vậy, ông P yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà H, sinh năm 1971. Địa chỉ cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Tổ 28, khu phố VB, phường BV, thành phố K, tỉnh Đồng Nai. Ông P không yêu cầu quản lý tài sản của người vắng mặt nơi cư trú.
Quá trình giải quyết, Tòa án đã tiến hành niêm yết Thông báo thụ lý việc dân sự và Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự cho bà H theo quy định của pháp luật. Đến nay đã hết thời hạn niêm yết vẫn không có thông tin gì về bà H.
Tại phiên họp, ông P không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ và không yêu cầu Tòa án triệu tập những người khác có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng hoặc người tham gia tố tụng khác khi giải quyết việc dân sự.
Để giải quyết vụ án, theo yêu cầu của ông P và xét thấy cần thiết, Tòa án đã tiến hành thu thập những tài liệu, chứng cứ sau: Biên bản xác minh về thông tin địa chỉ của bà H (bút lục số 16).
Tại biên bản xác minh ngày 04/4/2022, Công an phường Bảo Vinh, thành phố Long Khánh cho biết như sau: Bà H, sinh năm 1971 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 28, khu phố VB, phường BV, thành phố K, tỉnh Đồng Nai, nhưng không còn sinh sống tại địa phương từ khoảng năm 2020, cụ thể bà H đang làm gì và ở đâu địa phương không rõ.
Tại phiên họp Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ việc đến trước thời điểm mở phiên họp.
Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú của ông P đối với bà H.
Về lệ phí: Người yêu cầu phải chịu lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Ông P yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà H, vì vậy yêu cầu của ông P được xác định là: “Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 2 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; bà H có địa chỉ nơi cư trú cuối cùng tại: tổ 28, khu phố VB, phường BV, thành phố K, tỉnh Đồng Nai nên yêu cầu của ông P thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ việc: Ông P và bà H là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Bà H biệt tích mấy năm nay, không liên lạc gì với ông P nên tình cảm vợ chồng không còn, nay ông P muốn ly hôn nhưng không biết địa chỉ cụ thể của bà H. Mặc dù ông P đã liên lạc với gia đình bà H, tự đi tìm kiếm địa chỉ mới của bà H nhưng không có kết quả, làm ảnh hưởng đến quyền được ly hôn của ông P. Do đó, ông P yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà H theo quy định tại khoản 1 Điều 381 Bộ luật tố tụng dân sự.
Như vậy, có căn cứ để xác định rằng, tính đến thời điểm ông P nộp đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự thì bà H đã biệt tích hơn 06 (sáu) tháng liền trở lên và đến nay không có tin tức gì. Lời khai của ông P phù hợp biên bản xác minh của Tòa án. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 64 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 381 Bộ luật Tố tụng dân sự, yêu cầu của ông P là có cơ sở để chấp nhận.
Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông P là người yêu cầu giải quyết việc dân sự nên phải chịu lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 2 Điều 27; điểm a, khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 và các điều 149, 370, 371, 372, 381, 384, 386 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 64 của Bộ luật dân sự;
- Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của ông P về việc: “Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” đối với bà H, sinh năm 1971. Địa chỉ cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Tổ 28, khu phố VB, phường BV, thành phố K, tỉnh Đồng Nai.
Quyết định này đương nhiên hết hiệu lực trong trường hợp bà H quay trở về.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông P phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Chuyển số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng lệ phí ông P đã nộp theo biên lai thu số 0005497 ngày 24/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai sang lệ phí. Ông P đã nộp đủ lệ phí.
3. Người yêu cầu có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Quyết định này có thể bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung). Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND thành phố Long Khánh; - Chi cục THA thành phố Long Khánh; - Người yêu cầu (để thi hành); - Lưu hồ sơ, án văn. | THẨM PHÁN (Đã ký) Đồng Thị Hương |