vanban.org

Quyết định 04/2022/QĐCNHGT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 27/10/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận kết quả hòa giải thành của các bên được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 11 tháng 10 năm 2022, cụ thể như sau:

Ông Trần Văn Q có trách nhiệm giao trả cho hộ ông Nguyễn Thế H và bà Châu Thị Đ được quyền sử dụng diện tích đất tranh chấp 155,22 m2 và toàn bộ cây trái trên đất, nằm trong tổng diện tích 7.770 m2, thửa 96, tờ bản đồ số 02, loại đất trồng cây ăn quả, tọa lạc tại ấp GB, xã HT, huyện TC, tỉnh Trà Vin… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp QSD đất"
  • Tòa quyết gì? Công nhận kết quả hòa giải thành của các bên được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 11 tháng 10 năm 2022, cụ thể như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 33 Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 34 Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH TRÀ VINH
Số: 04/2022/QĐCNHGT
TC, ngày 27 tháng 10 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH TẠI TÒA ÁN

Căn cứ vào các Điều 32, 33, 34 và 35 của Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án;

Căn cứ vào yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành của ông Nguyễn Thế H, bà Châu Thị Đ và ông Trần Văn Q;

Sau khi nghiên cứu:

- Đơn khởi kiện đề ngày 19 tháng 7 năm 2022 về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Thế H và bà Châu Thị Đ.

- Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải thành ngày 11 tháng 10 năm 2022 về việc thỏa thuận giải quyết toàn bộ tranh chấp của các bên tham gia hòa giải sau đây:

Người khởi kiện: Ông Nguyễn Thế H, sinh năm 1953; Bà Châu Thị Đ, sinh năm 1957;

Địa chỉ: Ấp GB, xã HT, huyện TC, tỉnh Trà Vinh.

Người bị kiện: Ông Trần Văn Q, sinh năm 1965;

Địa chỉ: Ấp GB, xã HT, huyện TC, tỉnh Trà Vinh.

- Các tài liệu kèm theo Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải do Hòa giải viên chuyển sang: Đơn khởi kiện ngày 19/7/2022 (bản chính); Bản tự khai của ông Nguyễn Thế H, bà Châu Thị Đ, ông Trần Văn Q (bản chính); Căn cước công dân của ông Nguyễn Thế H, ông Trần Văn Q (bản phô tô); Hồ sơ hòa giải của Uỷ ban nhân dân xã HT (bản chính); Công văn số: 1251/CNHTC-ĐKCG, ngày 13/9/2022 (kèm theo trích lục bản đồ địa chính thửa 20, 81, tờ bản đồ số 02, tài liệu năm 1982) của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện TC.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Kết quả hòa giải thành được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 11 tháng 10 năm 2022 có đủ các điều kiện quy định tại Điều 33 của Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận kết quả hòa giải thành của các bên được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 11 tháng 10 năm 2022, cụ thể như sau:

Ông Trần Văn Q có trách nhiệm giao trả cho hộ ông Nguyễn Thế H và bà Châu Thị Đ được quyền sử dụng diện tích đất tranh chấp 155,22 m2 và toàn bộ cây trái trên đất, nằm trong tổng diện tích 7.770 m2, thửa 96, tờ bản đồ số 02, loại đất trồng cây ăn quả, tọa lạc tại ấp GB, xã HT, huyện TC, tỉnh Trà Vinh do hộ ông Nguyễn Thế H đứng tên quyền sử dụng. Đất có vị trí và tứ cận như sau:

Hướng Đông giáp phần còn lại của thửa 96 có số đo 7,3 m;

Hướng Tây giáp thửa đất của Thạch Sa R có số đo 8,3 m;

Hướng Nam giáp Kênh có số đo 20,4 m;

Hướng Bắc giáp phần còn lại của thửa 96 có số đo 19,4 m.

Ông Nguyễn Thế H và bà Châu Thị Đ có trách nhiệm trả chi phí san lấp mặt bằng và giá trị toàn bộ cây trái trên đất cho ông Trần Văn Q bằng 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng.

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ký, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

Cỡ chữ