- Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với Phạm Nguyên T."
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Nguyên T.
- Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 04 /2022/QĐ-TA | Phong Điền, ngày 01 tháng 11 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
__________
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Trần Văn Trường.
2. Thư ký phiên họp: Bà Bùi Thị Thanh Trúc.
Ngày 01 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 04/QĐ-TA ngày 24 tháng 10 năm 2022, đối với:
Họ và tên: Phạm Nguyên T; giới tính: Nam.
Sinh ngày 04 tháng 3 năm 1996.
Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 8/12.
Nguyên quán: Xã P, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Thôn T1, xã P, huyện PĐ, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Tiền án, tiền sự: Không có.
Con ông: Phạm Đ và bà: Trần Thị H.
Có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Văn L, chức vụ: Trưởng phòng, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế: Ông Nguyễn Thế Quân, Kiểm sát viên.
3. Đại diện cơ quan lập hồ sơ: Ông Nguyễn Xuân H; chức vụ, nơi làm việc: Trưởng Công an xã Phong An.
4. Ông Phạm Đ, bà Trần Thị H; nơi cư trú: Thôn T1, xã P, huyện PĐ, tỉnh Thừa Thiên Huế; là cha, mẹ đẻ của anh T.
NHẬN THẤY:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, đã được kiểm tra tại phiên họp công khai:
Phạm Nguyên T sử dụng chất ma túy từ năm 2017, loại heroine; được xác định là người nghiện ma túy và đang trong thời gian tự nguyện cai nghiện bằng việc sử dụng thuốc thay thế.
Ngày 11-10-2022, Công an xã P phát hiện T sử dụng trái phép chất ma túy; đã lập biên bản vi phạm đối với T về hành vi trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy. Kết quả xét nghiệm T dương tính với chất ma túy.
Ngày 12-10-2022, Công an xã P có Thông báo số: 06/TB-CAX về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P có Quyết định số: 449/ĐN-QLNN ngày 12-10-2022 về việc quản lý người nghiện trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai n ghiện bắt buộc.
Ngày 18-10-2022, Ủy ban nhân dân xã P có Văn bản số: 01/ĐN-CNBB đề nghị xem xét lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Nguyên T.
Ngày 18-10-2022, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Phong Điền có Văn bản số: 02/ĐN-CNBB đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Nguyên T.
Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Phong Điền đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Nguyên T, thời hạn 18 tháng.
Người đại diện cơ quan lập hồ sơ trình bày: Phạm Nguyên T là người nghiện ma túy, trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy thuộc trường hợp áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Việc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là cần thiết.
Người bị đề nghị trình bày: Anh có sử dụng ma túy từ năm 2017. Từ năm 2019 đến nay đang cai nghiện ma túy tự nguyện bằng hình thức uống thuốc methadone. Sáng ngày 11-10-2022, Công an xã P đưa anh về trụ sở làm việc, test nhanh để phát hiện sử dụng chất ma túy và ép buộc anh phải khai và ký nhận là có sử dụng chất ma túy. Ngày 12-10-2022, anh đã đến xét nghiệm tại Trung tâm Điều trị theo yêu cầu và Quốc tế của Bệnh viện Trung ương Huế thì kết quả không có sử dụng chất ma túy. Do đó, đề nghị xem xét không đưa anh vào cơ sở cai nghiện bắt buộc mà để anh tiếp tục tự nguyện cai nghiện.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Cơ quan lập hồ sơ, cơ quan đề nghị thực hiện đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập hồ sơ. Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng pháp luật về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Đề nghị Tòa án chấp nhận, ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Nguyên T thời hạn từ 18 đến 24 tháng.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp; trên cơ sở ý kiến của cơ quan đề nghị, người tham gia phiên họp và ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên họp,
XÉT THẤY:
Phạm Nguyên T là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, có nơi cư trú ổn định nhưng trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện vẫn sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 11-10-2022, Công an xã P kiểm tra, xét nghiệm T dương tính với chất ma túy, đã lập biên bản vi phạm.
Tại phiên họp, T cho rằng bị ép buộc và cung cấp kết quả xét nghiệm không có chất gây nghiện nhưng xét thấy thời điểm phát hiện và đưa T về trụ sở Công an xã làm việc là vào ban ngày; tại Bản tường trình do T tự viết thừa nhận trong thời gian cai nghiện tự nguyện thỉnh thoảng vẫn sử dụng chất ma túy; biên bản thử nước tiểu phát hiện sử dụng chất ma túy và biên bản vi phạm đều có ông Phạm Đ là cha đẻ ký xác nhận. Từ sau khi được thông báo việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đều không có ý kiến, khiếu nại. Do đó, việc T cho rằng bị ép buộc là không có cơ sở.
Như vậy, có đủ cơ sở xác định Phạm Nguyên T thuộc đối tượng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 2 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 và khoản 1 Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2020.
Thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đảm bảo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được lập đúng quy định tại các Điều 103 và 104 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2020.
Về tính chất, mức độ vi phạm: Phạm Nguyên T nhận thức được việc sử dụng trái phép chất mà túy là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước; ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân, cuộc sống gia đình; gây mất trật tự, an toàn xã hội và là nguyên nhân làm phát sinh các hành vi vi phạm, tội phạm nhưng vẫn sử dụng. Do đó, việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhằm giúp T cai nghiện, ổn định sức khỏe, lao động, học nghề nhằm hòa nhập cộng đồng, trở thành công dân có ích là cần thiết, phù hợp quy định của pháp luật.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Phạm Nguyên T không phạm vào tình tiết tăng nặng; khi bị phát hiện đã khai nhận hành vi nhưng tại phiên họp phủ nhận và không thành thật hối lỗi nên không được hưởng tình tiết giảm nhẹ.
Ý kiến của người đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Phong Điền đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Nguyên T là có căn cứ, đúng pháp luật.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 1 Điều 96; các Điều 103, 104; khoản 2 Điều 105 và Điều 106 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2020;
Căn cứ khoản 2 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy năm 2021;
Căn cứ vào các Điều 17, 19, 20, 22, 23, 30 và 31 Pháp lệnh Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Nguyên T.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày người bị đề nghị bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Cơ sở cai nghiện bắt buộc: Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế; địa chỉ tại số 55 đường C, phường H, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Phong Điền phối hợp với Công an huyện Phong Điền thi hành quyết định này./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Phong Điền; - Phòng LĐ - TB&XH huyện Phong Điền; - Công an huyện Phong Điền; - Trung tâm BTXH tỉnh Thừa Thiên Huế; - UBND xã P; - Người bị đề nghị; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN (Đã ký) Trần Văn Trường |