- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "NĐ: Nguyễn Cao Thắng - BĐ: Dương Văn Hùng"
- Tòa quyết gì? Giữ nguyên Quyết định số: 84/2022/QĐST-DS ngày 01 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú.
- Căn cứ chính? Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 04/2022/QĐ-PT | An Giang, ngày 24 tháng 9 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Đào Chí Keo
Các Thẩm phán:
Bà Trần Thị Thúy Hà
Ông Lâm Thuận Tùng
- Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Vân- Thư ký Toà án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên họp: Ông Dương Quy Thái- Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh An Giang mở phiên họp giải quyết công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 150/2022/TLPT-DS ngày 17 tháng 8 năm 2022 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Tại quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số: 84/2022/QĐST-DS ngày 01 tháng 6 năm 2022
Toà án nhân dân huyện Châu Phú đã căn cứ vào các điều 217, 281, 219, 235 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Tranh chấp Quyền sử dụng đất” giữa:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Cao T, sinh năm 1935. Địa chỉ: Tổ 10, Ấp K, xã K, huyện C, tỉnh G (chết).
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Thắng gồm:
1.1. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1945. Địa chỉ: Ấp K, xã K, huyện C, tỉnh G.
1.2. Bà Nguyễn Thị Mai T, sinh năm 1972. Địa chỉ: Ấp M, xã P, huyện C, tỉnh G.
1.3. Bà Nguyễn Thị Mai T1, sinh năm 1973. Địa chỉ: Ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh G.
1.4. Bà Nguyễn Thị Hoàng D, sinh năm 1975. Địa chỉ: Ấp K, xã K, huyện C, tỉnh G.
1.5. Ông Nguyễn Hoàng H, sinh năm 1977. Địa chỉ: Số 78, THH, phường P, thành phố X, tỉnh G.
1.6. Ông Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1978. Địa chỉ: Khóm C, phường P, thành phố CĐ, tỉnh G.
1.7. Ông Nguyễn Bảo L, sinh năm 1980. Địa chỉ: Ấp H, xã P, huyện C, tỉnh G.
1.8. Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1984. Địa chỉ: Ấp K, xã K, huyện C, tỉnh G.
Đại diện theo ủy quyền của bà L, bà T, bà T1, bà D, ông H, ông Đ, ông L và ông T: ông Nguyễn Thế T1, sinh năm 1970. Địa chỉ: Ấp K, xã K, huyện C, tỉnh G.
- Bị đơn: Ông Dương Văn H1, sinh năm 1969. Địa chỉ: Tổ 13, ấp H, xã Đ, huyện C, tỉnh G.
- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ông Hùng: Luật sư Lê Văn P – Văn Phòng Luật sư Lê Văn Phúc thuộc Đoàn Luật sư tỉnh An Giang. Địa chỉ: Số 64, ĐBP, phường L, TP X, tỉnh G.
- Người có quyền, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1969. Địa chỉ: Tổ 13, ấp H, xã Đ, huyện C, tỉnh G.
Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông T có quyền yêu cầu nhận lại đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại đơn kháng cáo ngày 06 tháng 6 năm 2022 của ông Nguyễn Thế T1 nêu với lý do: Việc trả đơn yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Cao T là gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Thắng.
Tại phiên họp, người đại diện là ông Dương Văn H1, ông Nguyễn Thế T1 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, không cung cấp chứng cứ mới, chỉ nêu đất ở đang tranh chấp được ông Nguyễn Cao T cho gia đình ông Dương Văn H1 ở nhờ không nằm thỏa thuận bồi hoàn thành quả lao động giữa ông Nguyễn Cao T với bà Bùi Thị T2 ngày 17 tháng 9 năm 1989, nay yêu cầu trả lại đất hoặc hoàn giá trị quyền sử dụng đất.
XÉT THẤY:
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Diện tích ông Nguyễn Cao T tranh chấp với ông Dương Văn H1 thuộc thửa số 1009 có diện tích thực đo là 928m2 thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 01385 QSDĐ do UBND huyện Châu Phú cấp ngày 10/3/1992 và cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH0998 ngày 23/8/2011 cho ông Dương Văn H1 , bà Nguyễn Thị N. Quá trình giải quyết vụ án, ông Hùng trình bày rằng trước đây ông và các anh chị em của ông đã từng tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất do cha mẹ ông để lại và đã được Tòa án nhân dân huyện Châu Phú giải quyết sơ thẩm, Tòa án nhân dân tỉnh An Giang giải quyết phúc thẩm và có bản án có hiệu lực pháp luật.
Tại bản án số 157/2015/DS-ST ngày 22-7-2015, tại phần xét thấy: “các đương sự không yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Hùng nên Hội đồng xét xử ổn định diện tích đất đã cấp cho ông Hùng và bà Nở theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02998 ngày 23/8/2011 do ông Hùng và bà Nở đứng tên”. Và tại phần quyết định thể hiện “ông Hùng được quyền sử dụng diện tích 10.000m2 đất nông nghiệp tọa lạc tại ấp Mỹ Hòa, xã Mỹ Đức, huyện Châu Phú tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02998 ngày 23/8/2011 do ông Hùng và bà Nở đứng tên”. Tại Bản án phúc thẩm số 285/2015/DS-PT ngày 10/12/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đã quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm số 157/2015/DS-ST ngày 22-7-2015 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú.
Như vậy, vào năm 2015 đã có bản án có hiệu lực pháp luật quyết định cho ông Hùng được quyển sử dụng diện tích đất mà ông Thắng đang tranh chấp với ông trong vụ án này. Trường hợp này, theo án lệ số 38/2020/AL đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 13/8/2020, công bố theo quyết định số 276/QĐ-CA ngày 02/10/2020 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với tình huống án lệ: “Sau khi tài sản là quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất đã được phân chia bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp lực của Tòa án thì có người khác(không phải là đương sự trong vụ án đó) khởi kiện đòi quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất đó” thì giải pháp pháp lý trong trường hợp này là “Tòa án không thụ lý vụ án mới. Người có yêu cầu đòi quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất thông báo bằng văn bản cho người có thẩm quyền xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm theo quy định của pháp luật”.
Đề nghị Hội đồng phúc thẩm căn cứ điểm a khoản 5 Điều 314 Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên quyết định số 84/2022/QĐST-DS ngày 01 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú.
Sau khi hội ý, xét thấy Tòa án nhân dân huyện Châu Phú đã đình chỉ giải quyết vụ án căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 192, Điều 217, Điều 218 và Điều 219 của Bộ luật tố tụng dân sự là đúng pháp luật nên kháng cáo của ông Nguyễn Cao T không có căn cứ để Hội đồng phúc thẩm xem xét chấp nhận như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang.
Căn cứ vào Điều 314 của Bộ luật tố tụng dân sự;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Giữ nguyên Quyết định số: 84/2022/QĐST-DS ngày 01 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú.
2. Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Cao T gồm: Bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị Mai T; Bà Nguyễn Thị Mai T1; Bà Nguyễn Thị Hoàng D, Ông Nguyễn Hoàng H, Ông Nguyễn Thành Đ; Ông Nguyễn Bảo L, Ông Nguyễn Đức T phải chịu án phí phúc thẩm 300.000đ được trừ tiền tạm ứng kháng cáo đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0003846 ngày 14/6/2022 do ông Nguyễn Thế T1 nộp.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh An Giang; - Chi cục THADS H.Châu Phú; - TAND.H.Châu Phú; - Tòa Dân sự; - Phòng KTNV và THA; - Văn phòng; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Đào Chí Keo |