vanban.org

Quyết định 04/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 17/03/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao bị cáo Ch cho UBND xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Giao bị cáo Ch cho UBND xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2022/HSST
Ngày: 17/3/2022
.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨMThỶ, TỈNH THANH HÓA

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Ánh Tuyết

Các hội thẩm nhân dân:

Ông: Nguyễn Ngọc Th

Bà: Nguyễn Thị Tiếp

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Vân– Thư ký Toà án nhân dân huyện CẩmThỷ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CẩmThỷ tham gia phiên toà:

Ông: Cao Duy Phục – Kiểm sát viên.

Ngày 17/3/2022, tại hội trường TAND huyện C. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/HSST, ngày 26/01/2022 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Bùi Văn Ch - Sinh ngày 10/12/1988 tại xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi cư trú: Thôn Th, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.

Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa 09/12. Dân tộc: Mường. Giới Th: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch Việt Nam. Con bà Bùi Thị Th, sinh năm 1966. Vợ Bùi Thị H, sinh năm 1988 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/10/2021 đến ngày 13/10/2021 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

2. Họ và tên: Đỗ Bá D - Sinh ngày 08/3/1975 tại xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi cư trú: Thôn Th, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.

Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa 06/12. Dân tộc: Kinh. Giới Th: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Đỗ Bá Tr và bà Đinh Thị (Đều đã chết) . Vợ con chưa. Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 25/3/2021, bị Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại đến sức khỏe người khác.

Nhân thân: Ngày 14/5/2005, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xử phạt 18 tháng tù về tội cố ý gây thương tích. Ngày 23/01/2006 chấp hành xong hình phạt tù (Đã xóa án tích)

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/10/2021 đến ngày 13/10/2021 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

3. Họ và tên: Cao Văn Th - Sinh ngày 01/12/1991 tại xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi cư trú: Thôn Th, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.

Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa 06/12. Dân tộc: Mường. Giới Th: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Cao Văn L, sinh năm 1970 và bà Cao ThTh, sinh năm 1971. Vợ con chưa. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/10/2021 đến ngày 13/10/2021 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

4. Họ và tên: Trương Công Th - Sinh ngày 02/6/1990 tại xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi cư trú: Thôn Th, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.

Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa 02/12. Dân tộc: Mường. Giới Th: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Trương Công T, sinh năm 1963 và bà Cao Thị Ch, sinh năm 1962. Vợ Trương Thị Ch, sinh năm 1992 và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/10/2021 đến ngày 13/10/2021 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

5. Họ và tên: Cao Văn T - Sinh ngày 15/9/1997 tại xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi cư trú: Thôn Th, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.

Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa 12/12. Dân tộc: Mường. Giới Th: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Cao Xuân L sinh năm 1974 và bà Trương Thị C, sinh năm 1976. Vợ, con chưa. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/10/2021 đến ngày 13/10/2021 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

6. Họ và tên: Cao Xuân H - Sinh ngày 03/4/1993 tại xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi cư trú: Thôn Th, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.

Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa 12/12. Dân tộc: Mường. Giới Th: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Cao Xuân Th, sinh năm 1962 và bà Hoàng Thị H, sinh năm 1965. Vợ, con chưa. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/10/2021 đến ngày 13/10/2021 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

Anh Lưu Văn Đ, sinh năm 1974.

Nơi cư trú: Thôn Th, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào tối ngày 03/10/2021, Đỗ Bá D, Cao Văn Th, Trương Công Th, Cao Văn T, Cao Xuân H, đến nhà Bùi Văn Ch để chơi. Sau đó, các bị cáo cùng rủ nhau đánh bạc. Cao Xuân T là người đi mua 01 (một) bộ bài Tú lơ khơ 52 (năm mươi hai) quân và cùng mọi người vào phòng ngủ của gia đình Bùi Văn Ch để đánh bạc dưới hình thức chơi liêng. Thể thức đánh bạc là mỗi ván trước khi chia bài, mỗi người chơi đặt cược số tiền 5.000 đ (năm nghìn đồng) vào số tiền chung, người chia bài chia cho mỗi người chơi 03 (ba) quân bài. Sau khi lên bài, người chia bài là người chơi đầu và có thể tăng số tiền đánh lên, người chơi tiếp theo có thể theo hoặc úp bỏ bài hoặc tăng mức đánh nhưng không quá 30.000 đ (ba mươi nghìn đồng). Sau khi đã đặt cược xong, người nào có bài mang giá trị lớn nhất thì sẽ được toàn bộ số tiền mà người chơi đã đặt cược và sẽ được chia bài ván tiếp theo. Nếu nhiều người có giá trị bài lớn nhất và bằng nhau thì sẽ mua chào và đánh ván “Chào”. Quá trình các bị cáo đánh bạc thì có anh Lưu Văn Đ đến nhà Bùi Văn Ch chơi và ngồi xem đánh bạc. Đến 23 giờ 45 phút cùng ngày Tổ công tác Công an xã C, huyện CẩmThỷ phát hiện, bắt quả tang các bị cáo về hành vi đánh bạc.

Đối với Cao Văn T và Cao Xuân H bỏ chạy về nhà. Đến 10 giờ 00 phút ngày 04/10/2021 đã đến Công an huyện CẩmThỷ để đầu thú về hành vi đánh bạc và khai nhận toàn bộ hành vi đánh bạc vào tối ngày 03/10/2021.

Về vật chứng:

- 52 (năm mươi hai) quân bài tú lơ khơ từ quân A (át) đến quân K (ka) là cung cụ, phương tiện các đối tượng sử dụng để đánh bạc, được chuyển đến kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.

- Đối với số tiền 5.960.000 đ (năm triệu chín trăm sáu mươi nghìn đồng)Th giữ tại chiếc bạc là số tiền các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc đã được niêm phong trong phong bì ký hiệu B14/2021 và nhập kho lưu ký tại kho bạc Nhà Nước huyện CẩmThỷ.

- Đối với 04 (bốn) điện thoại di động; 02 (hai) ví da và 01 (một) giấy phép lái xe mang tên Cao Xuân T thì các đối tượng không sử dụng mục đích đánh bạc. Vì vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện C ra quyết định xử lý đồ vật, tài liệu trả lại cho chủ sở hữu.

Bản cáo trạng số 12/CT-VKSCT-TA, ngày 24/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố Bùi Văn Ch, Đỗ Bá D, Cao Văn Th, Trương CôngThận, Cao Văn T và Cao Xuân H về tội: Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 – BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C giữ nguyên quan Đ truy tố về tội danh đối với các bị cáo và đề nghị:

- Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321, Đ i Đ s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 BLHS. Xử phạt bị cáo Bùi Văn Ch từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Không áp dụng phạt tiền bổ sung đối với bị cáo Ch.

- Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321, Đ s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 BLHS. Xử phạt Đỗ Bá D từ 06 đến 09 tháng tù. Không áp dụng phạt tiền bổ sung đối với bị cáo D.

- Đề nghị áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, Đ i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 35, Điều 58 BLHS, (Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 – BLHS đối với bị cáo T và bị cáoH) xử phạt hình phạt chính là phạt tiền đối với các bị cáo: Cao Văn Th, Trương CôngThận, Cao Văn Tin và Cao Xuân H.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 điều 46, Đ a, Đ b khoản 1 điều 47 BLHS, Đ a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. TịchTh sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 5.960.000đ các bị cáo dùng để đánh bạc. TịchTh tiêu hủy 52 quân bài tú lơ khơ từ quân A (Át) đến quân K (Ka).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Đ a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Ðiều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về tội danh: Ngày 03/10/2021, các bị cáo Bùi Văn Ch, Đỗ Bá D, Cao Văn Th, Trương CôngThận, Cao Văn Tin và Cao Xuân H đánh bạc tại nhà Bùi Văn Ch thôn Th, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa với hình thức đánh bạc là đánh liêng, cách thức đánh bạc đúng như bản cáo trạng đã mô tả. Lời khai của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với nội dung cáo trạng, lời khai của người làm chứng cùng tài liệu khác có trong hồ sơ.

Hành vi của các bị cáo Bùi Văn Ch, Đỗ Bá D, Cao Văn Th, Trương Công Th , Cao Văn T và Cao Xuân H có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố hành vi của các bị cáo là có cơ sở và đúng pháp luật.

Xét Th chất vụ án: Đây là vụ án “Đánh bạc” xảy ra ở vùng nông thôn miền núi, trình độ dân trí còn hạn chế, cách thức đánh bạc đơn giản, không tổ chức chặt chẽ, không có sự bàn bạc trước, không có người khởi xướng, người chủ mưu cầm đầu, không có canh gác bảo vệ, vì vậy đây là vụ án đồng phạm giản đơn.

Hành vi đánh bạc của các bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội gây mất an ninh trật tự và gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân vì vậy cần xử lý nghiêm minh.

Xét về vai trò của các bị cáo: Bị cáo Bùi Văn Ch là chủ nhà, tham gia với vai trò tích cực nên giữ vai trò đứng đầu. Vị trí tiếp theo gồm Cao Văn T và các bị cáo khác tham gia với vai trò là người thực hành tích cực.

Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo Bùi Văn Ch, Cao Văn Th, Trương CôngThận, Cao Văn T và Cao Xuân H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầuThộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Đ s, i khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Ch có ông nội được Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa tặng bằng khen đã có thành tích tham gia trong cuộc kháng Ch chống Mỹ. Bị cáo T đã đầu thú, được tặng danh hiệu Ch sỹ tiên tiến, tham gia từ thiện ủng hộ các gia đình nghèo, cận nghèo trong dịp tết 2022, gia đình có công với cách mạng đang thờ cúng liệt sỹ. Bị cáoH đã đầu thú. Do đó, các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo D được hường tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, bố bị cáo được tặng Huân chương khánh Ch, mẹ tham gia dân công hỏa tuyến quy định tại Đ s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS.

Xét về nhân thân:

Các bị cáo: Bùi Văn Ch, Cao Văn Th, Trương CôngThận, Cao Văn T và Cao Xuân H chưa từng bị xét xử và xử phạt vi phạm hành chính.

Bị cáo D đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe người khác và có 01 nhân thân về tội cố ý gây thương tích.

Về hình phạt chính áp dụng đối với các bị cáo:

Bị cáo D có nhân thân xấu, có một tiền sự. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục trở thành người tốt và đảm bảo Th răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

Bị cáo Ch được hưởng các tình tiết giảm nhẹ đã nêu ở trên và có nơi cư trú rõ ràng, nên cũng ch a cÇn ph¶i c¸ch ly bÞ c¸o khái ®êi sèng x· héi mµ giao cho chÝnh quyÒn ®Þa ph ¬ng gi¸m s¸t vµ gi¸o dôc ®Ó các bÞ c¸o cã c¬ héi c¶i t¹o trë thµnh ng êi tèt.

Bị cáo Cao Văn Th, Trương CôngThận, Cao Văn T và Cao Xuân H có nhân thân tốt và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ nên xử phạt tiền đối với các bị cáo này là phù hợp.

Về phạt bổ sung: Các bị cáo Ch và D, hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

TịchTh sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 5.960.000đ các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc.

TịchTh tiêu hủy 52 quân bài từ quân A đến K.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Tuyên bố các bị cáo Bùi Văn Ch, Đỗ Bá D, Cao Văn Th, Trương Công Th, Cao Văn T và Cao Xuân H phạm tội Đánh bạc.

- Căn cứ Căn cứ khoản 1 Điều 321, Đ s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 BLHS. Xử phạt bị cáo Đỗ Bá D 06 tháng tù, được trừ 09 ngày tạm giữ còn phải chấp hành 05 tháng 21 ngày tù, Th từ ngày chấp hành hình phạt.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321, Đ s, Đ i khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 BLHS. Xử phạt bị cáo Bùi Văn Ch 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, Th từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Ch cho UBND xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321, Đ i, s khoản 1, (Khoản 2 Điều 51 đối với bị cáo T và bị cáoH), khoản 1 Điều 35, Điều 17, Điều 58 BLHS. Xử phạt hình phạt chính là phạt tiền đối với các bị cáo: Cao Văn Th, Trương CôngThận, Cao Văn T và Cao Xuân H mỗi bị cáo 25.000.000đ.

Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 điều 46, Đ a, Đ b khoản 1 điều 47 BLHS, Đ a, Đ b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

TịchTh sung vào ngân sách Nhà nước số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 5.960.000đ, theo phiếu nhập kho ngày 25/10/2021, được niêm phong trong phong bì ký hiệu số B14/2021 của Kho bạc nhà nước huyện C, tỉnh Thanh Hóa.

TịchTh tiêu hủy 52 quân bài tú lơ khơ từ quân A (Át) đến quân K (Ka) theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Đ a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. N¬i nhËn:

Cỡ chữ